Kinh Đại thừa
Phật Thuyết Kinh đà La Ni Tập - Phần Tám - Thập Nhất Diện Quán Thế âm Thần Chú Kinh
PHẬT THUYẾT
KINH ĐÀ LA NI TẬP
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
A Địa Cồ Đa, Đời Đường
PHẦN TÁM
THẬP NHẤT DIỆN
QUÁN THẾ ÂM THẦN CHÚ KINH
TẬP BẢY
Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ Tát nói với các quỷ rằng: Ma quỷ các ngươi đừng sợ hãi, đừng té ngã. Các ngươi hãy ngồi dậy. Ta ở ngày nay làm pháp ấn này, các chúng của bốn bộ học pháp này, đừng khiến cho đoản mạng, gây nhóm bệnh nạn.
Nếu người ngày ngày làm Ấn pháp này, mọi loại cúng dường, liền được nghiệm lớn, khi chết sanh vào nước của Đức Phật A Di Đà, gần với A Nậu Đa La Tam Miệu Tam bồ đề.
A Ba La Chất Đa Ấn thứ ba mươi bảy Aparājita Đường nói là Vô Thắng Ấn Đệ Thập Diện. Khuôn mặt thứ mười.
Đứng trên mặt đất,trước tiên co rộng đầu gối trái, ngay thẳng dẫm đạp mặt đất, hướng đầu ngón chân về phía trước. Nghiêng bàn chân trái duỗi thẳng hướng về bên phải, hướng đầu ngón chân về phía trước. Hai tay cài ngược ngón trỏ, ngón vô danh ngay trong lòng bàn tay, bên phải đè bên trái.
Đem hai ngón út, hai ngón giữa cùng dính đầu ngón, kèm hai ngón cái dựng thẳng đừng dính cạnh ngón trỏ. Hợp cổ tay nâng Ấn lên hướng chạm trên nách bên phải.
Pháp Thân Ấn này. Tụng Đại Chú lúc trước bảy biến xong, sau đó lại nâng hướng lên để dính trên trán, lại Chú bảy biến. Tùy theo cõi nước nào làm pháp này thì ngũ cốc được mùa dư đầy, người dân không có bệnh, hay phá tất cả pháp của các ngoại đạo.
Ma La Tê Na Ba La Mạt Đà Nễ Ấn thứ ba mươi tám Māra sena pramardani Đường nói là Phá Ma Quân Ấn Đệ Thập Nhất Diện. Khuôn mặt thứ mười một.
Hợp cổ tay. Hai tay kèm dựng ngón cái, ngón út. Hai ngón trỏ, hai ngón giữa, hai ngón vô danh đều co đầu ngón cách nhau khoảng một Thốn 1/3 dm, các cạnh của đầu ngón tay đều mở khoàng nửa thốn 1/6dm. Nâng Ấn lên, đề phần bên dưới cổ tay chạm ngay trên đảnh đầu. Co đầu gối phải như đầu gối trái của Thân Ấn lúc trước, duỗi bàn chân trái như bàn chân phải của Ấn lúc trước.
Quán Thế Âm Bồ Tát ở ngay trước mặt Đức Phật nói lời như vậy: Nay con có mười một mặt đều xuất ra một Ấn. Nếu người thấy nghe với học pháp này, như pháp thực hành thì Tội bốn nặng, năm nghịch với hằng sa tội một thời tiêu diệt, giống như lửa mạnh thiêu đốt cả cây cỏ. Tù theo cõi nước nào, nơi có pháp này cùng với tự thân của con hiện trụ không có khác. Mười một Ấn này dùng chung Đại Đà La Ni đầu tiên.
Điệt Lý Thủ La Ấn Chú thứ ba mươi chín Tri śūla. Cây kích, cây chỉa ba Đường nói là Đầu Kích Ấn.
Tay phải: Co ngón út, đem ngón cái đè trên móng ngón út, tách duỗi ba ngón còn lại, chống bên cạnh eo phải. Bên trái đồng với bên phải, chỉ co cánh tay trái hướng lên trên, để lưng cổ tay chạm trước nách.
Thân ngồi xuống Chú là:
Úm a lê gia bà lộ chỉ đế nhiếp bạt la gia bồ đề tát đỏa gia ma ha tát đỏa gia ma ha ca lô ni ca gia đá điệt tha đà la ni đà la ni tỳ đà la ni sân đà ni tần đà ni sa ha.
Pháp Ấn Chú này. Nếu người ngày ngày dùng nước nóng thơm tắm gội. Nếu ngày ngày chẳng thể tắm gội thì ngày tám, ngày mười, ngày mười bốn, ngày mười năm dùng nước nóng thơm tắm gội, vào trong Đạo Tràng làm Thủy Đàn hai khuỷu tay, chính giữa Đàn để một lư hương, đốt Trầm Thủy Hương, tụng Kinh a Đi Đà thì tất cả nơi chốn dùng thày đều được nghiệm.
Hết thảy tất cả tội chướng của thân mình, ngày ngày làm Ấn, luôn luôn sám hối, chí Tâm tụng Chú thì tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt.
Quán Thế Âm Sách Ấn thứ bốn mươi:
Tay trái: Co ngón út, đem ngón cái đè trên móng ngón út làm lỗ hổng. Tay phải đem ngón cái từ bên dưới lỗ hổng nhập vào, dùng bốn ngón tay nắm quyền. Tay trái dựng tách ba ngón.
Nếu làm hai Ấn pháp như bên trên thì tất cả hàng Quỷ với các việc nạn đều không có chỗ sợ hãi.
Quán Thế Âm Mẫu Ấn thứ bốn mươi mốt:
Tay trái: Co ngón út, đem ngón cái đè trên móng ngón út làm lỗ hổng. Tay phải đem ngón út từ bên dưới nhập vào lỗ hổng, đem ngón cái đè trên móng ngón út dạng như móc khóa. Để đầu hai ngón vô danh dính nhau, đều bật hai ngón giữa ngay lưng móng ngón vô danh, đầu ngón dính nhau.
Đem đầu hai ngón trỏ để cạnh gốc móng vô danh, đầu ngón đừng dính nhau, mở ra khoảng một phân 1/3cm, đưa ngón trỏ qua lại Chú là:
Na mô a lê gia bà lộ chỉ đế nhiếp bạt la gia bồ đề tát đỏa gia ma ha tát đỏa gia ma ha ca lô ni ca gia đá điệt tha ca tra, tỳ ca tra cương ca tra ca tra, tỳ ca tra cương ca tra bà ca bà để tỳ xã duệ sa ha.
Ấn với Chú này dùng thông cho tất cả. Quán Thế Âm Mẫu Sa La Đá Ấn thứ bốn mươi hai.
Musāratā: Vương Tính, Mã Não Tính.
Dựa theo lúc trước, chỉ sửa hai ngón trỏ dính đầu nhau. Dùng Mẫu Chú lúc trước.
Ma Ha Ma La Ấn thứ bốn mươi ba Mahā mālā. Đại Hoa Man Đường nói là Kết Hoa Man Ấn.
Dựa theo lúc trước, chỉ sửa hai ngón vô danh mở ra, co lóng giữa của hai ngón trỏ cùng trụ đầu ngón, lìa ngón vô danh.
Pháp Ấn Chú này dùng Mẫu Chú lúc trước. Lấy một cái bồn sạch chứa đầy nước thơm, nên làm Ấn này đem khấy đảo nước thơm, Chú vào hai mươi mốt biến. Tiếp theo, nâng Ấn này ấn trên đảnh đầu của mình, như vậy ba lần.
Liền dùng Chú lúc trước, nấu nước thơm tắm gội, mặc áo sạch mới, vào nơi Đạo Tràng, kết giới thỉnh Quán Thế Âm, mọi loại cúng dường, đốt hương, rải hoa, Chú Sư ở ngay trước mặt Quán Thế Âm nên làm Ấn này thì điều mà Tâm đã Nguyện, miệng nói ra Nguyện thảy đều được nghiệm.
Quán Thế Âm Đàn Đà Ấn thứ bốn mươi bốn Daṇḍa: Đường nói là Sách Thất Bảo Trượng Ấn.
Dựa theo lúc trước, chỉ sửa: Hợp hai đầu ngón vô danh, duỗi ngón cái phải, đem hai đầu ngón trỏ trụ nhau, ngón út phải móc gốc ngón út trái. Dùng Mẫu Chú bên trên Pháp Ấn Chú này. Nếu người ngày ngày làm Ấn này thì được bốn thiền định. Sau khi chết được sanh về nước của Đức Vô Lượng Thọ ở phương Tây, thành bất thoái chuyển.
Như bốn Ấn bên trên, thông dùng Quán Thế Âm Mẫu Chú.
Quán Thế Âm Quân Trì Ấn Chú thứ bốn mươi năm: Kèm hai bàn chân đứng trên mặt đất. Tay trái nắm quyền hướng cánh tay lên trên, để cổ tay ngay phía trước vai, đừng để chạm vào vai, phần bên trong cổ tay hướng về vai.
Tay phải duỗi cánh tay hướng xuống dưới, duỗi hết năm ngón tay, lung bàn tay đừng dính vào lá lách Chú là:
Na mô a lê gia bà lộ chỉ đế nhiếp bạt la gia bồ đề tát đỏa gia ma ha tát đỏa gia ma ha ca lô ni ca gia đá điệt tha Úm tỳ lang già nễ sa ha.
Ương Câu Xá Ấn thứ bốn mươi sáuAṃkuśa Đường nói là Điếu Ấn.
Hợp cổ tay, kèm hai ngón cái duỗi thẳng, co lóng giữa của hai ngón trỏ cùng trụ đầu ngón, đừng dính vào đầu ngón cái. Đem hai đầu ngón giữa dính nhau, co lóng giữa của hai ngón vô danh cùng dính đầu ngón, đầu ngón ấy ổ ngay cạnh lóng trên của ngón giữa. Dững thẳng hai ngón út dính đầu nhau, đầu ngón đừng dính vào cạnh ngón vô danh, mở phần bên trong lòng bàn tay ra.
Bát Na Ma Ấn thứ ba mươi bảy. Padma Đường nói là Liên Hoa Ấn.
Dựa theo lúc trước, chỉ sửa ngón giữa, mở đầu ngón ra khoảng hai Phân 2/3cm hướng lên trên để trên đảnh đầu, thông với tất cả dụng. Chú vào hạt cải trắng với tro rồi dùng.
Bạt Chiết La Mẫu Sắt Tri Ấn thứ bốn mươi tám. Vajra muṣṭi Đường nói là Kim Cang Quyền Ấn.
Dựa theo Ương Câu Xá Ấn lúc trước, chỉ sửa hai ngón trỏ hơi co lại đều để ở lóng trên tại lưng của ngón giữa, đừng dính đầu nhau mà mở ra khoảng một phân 1/3cm. Kèm hai ngón cái đè cạnh lóng giữa của ngón giữa.
A Xoa Ma La Ấn cũng gọi là Đá Xa Ba La Mật Đa Ấn thứ bốn mươi chín. Daśa mālā Đường nói là Thập Độ Bỉ Ngạn Ấn, cũng nói là Sổ Châu Ấn.
Dựa theo lúc trước, chỉ sửa hai ngón út đều co ngay trong lòng bàn tay, cạnh hai lòng bàn tay dính nhau, đều co đầu hai ngón cái để cạnh lóng bên dưới của ngón trỏ.
Tổng cộng năm Ấn bên trên, thông dụng Quân Trì Chú lúc trước.
Pháp Ấn Chú này. Nếu người ngày ngày dùng nước nóng thơm tắm gội, vào nơi Đạo tràng, hộ Thân, kết giới, mọi loại cúng dường, làm pháp này thì người này quyết định được bất thoái chuyển.
A Di Đà Phật Ấn Chú thứ năm mươi:
Hơi mở cổ tay, kèm hai ngón cái, co đầu lóng hướng xuống dưới. Đều co hai ngón út, đem đầu hai ngón cái dính bên cạnh. Đầu ngón giữa dính nhau.
Đều co lóng giữa của hai ngón vô danh, hai ngón trỏ cùng trụ đầu nhau, đưa ngón cái qua lại Chú là:
Na mô a lợi gia a di đà bà gia đá tha yết đa đa a la ha đê tam miểu tam bồ đà gia đá điệt tha Úm a di lợi đá bà bả tê a ba bả sa gia sa ha.
Khi làm Đàn thời dùng Ấn Chú này.
Thích Ca Mâu Ni Phật Nhãn Ấn Chú thứ năm mươi mốt: Cài ngược ngón vô danh với hai ngón út ngay trong lòng bàn tay, dựng thẳng hai ngón giữa cùng dính đầu nhau, kèm hai ngón cái duỗi thẳng, co lóng giữa của hai ngón trỏ cùng trụ đầu nhau đem đè trên đầu hai ngón cái hợp cổ tay lại.
Chú là:
Úm tỳ lô xà nễ sa ha.
Địa Thiên Ấn Chú thứ năm mươi hai: Hợp cổ tay. Cài ngược hai ngón trỏ với hai ngón út ngay gtrong lòng bàn tay, bên phải đè bên trái. Dựng thẳng hai ngón giữa với hai ngón vô danh dính đầu nhau. Dựng hai ngón cái đè cạnh hai ngón trỏ, đưa ngón cái qua lại.
Chú là:
Úm bà tôn đà lê a na đà nhã bát la ba, la đát nễ sa ha.
Pháp Ấn Chú này. Khi mua đất làm Đại Đàn thời dùng Ấn Chú này, dùng làm Địa Khế.
Lược nói Ấn Đà La Ni xong.
Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân có thể hay y theo thực hành sự dạy bảo của Quán Thế Âm, làm Chú pháp này thì thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy dùng Bạch Chiên Đàn làm tượng Thập Nhất Diện Quán Thế Âm, gỗ ấy cần thiết phải tinh hảo bền chắc, chẳng được khô cong, thân Tượng ấy dài khoảng một khuỷu tay của Đức Phật. Hoặc hai khuỷu một gang tay của con người, nếu chẳng được thì làm khoảng một xích ba thốn 13/3dm cũng được.
Làm mười một mặt: ba mặt ngay phía trước làm mặt Bồ Tát, ba mặt bên gian trái nên làm mặt giận dữ, ba mặt bên gian phải tựa như mặt Bồ Tát ló nanh chó lên trên, một mặt bên phải ở phía sau nên làm mặt vui cười, mặt ngay trên đảnh đầu ấy nên làm mặt Phật… mười một mặt ấy đều đội mão hoa, trong mão hoa ấy mỗi mỗi đều an Đức Phật A Di Đà.
Tượng ấy có tay phải cầm Táo Quán. Vật khí chứa nước tẩy rửa của tăng nhân, miệng của Táo Quán ấy cắm một hoa sen, rữ cánh tay phải xuống dưới, giương bàn tay phải ấy dùng Xuyến, Anh Lạc làm bàn tay thí vô úy. Trên thân Tượng ấy khắc chạm Anh Lạc, mọi loại trang nghiêm.
Làm thân Tượng ấy, hoặc dùng nhóm vàng, bạc, Thâu Thạch. Một loại đá vẽ thảy đều được cả.
Lúc đó, người ấy làm Tượng này xong, muốn cầu ước nguyện trong Tâm được thành tựu thì từ ngày một của kỳ Bạch Nguyệt, vào ở Đạo Tràng đến ngày 13. Khi vào Đạo Tràng thời dùng nước nóng thơm tắm gội, mặc áo sạch mới, đủ ba loại áo sạch.
Trong một ngày thì ba thời thay áo: Sáng sớm, giữa ngày. Giờ Ngọ với lúc Mặt Trời lặn… đều mặc một cái áo. Khi lên phòng thì cới bỏ áo sạch, mặc quần áo đã bị vấy bẩn người hành đạo ăn một bữa, trường trai chẳng ăn vị khác, chỉ ăn Đại Mạch, cháo sữa nơi an Đạo Tràng ắt cần một Tịnh Thất.
Pháp đào đất, sửa trị như điều đã nói trong Đàn bảy ngày lúc trước: Lau quét, tô trét… dùng bùn hương sạch đẹp xoa bôi mặt đất xong, lại dùng nước thơm rưới vảy khắp đất ấy. Ngay gtrong cái Thất ấy liệu lường khoảng đất dài rộng tám khuỷu tay, ngay ngắn bằng phẳng.
Bốn góc dựng cột trụ, giáp vòng treo phan. Ngay chính giữa của Đàn làm một cái tòa cao để tượng Thập Nhất Diện Quán Thế Âm với mặt Tượng hướng về phương Tây. Dùng mọi loại hoa rải tán bên trong Đạo Tràng, chì đốt nhóm hương Trầm Thủy, Tô Hợp…
Từ ngày một đầu tiên cho đến ngày 7: Ba thời đều tụng Căn Bản Đại Chú một trăm lẻ tám biến, chưa cần hiến thức ăn. Từ giờ Ngọ.
Trung thời của ngày tám cho đến ngày 13: Một ngày một lần hiến riêng mọi loại thức ăn uống với quả trái khác. Thức ăn đã hiến chẳng được để trên mâm, chỉ trải cỏ sạch, vật sành sứ sạch mới kèm với các nhóm lá… chứ đầy thức ăn uống cúng hiến. Ở trong ngày mười bốn, ngày mười bốn tăng thêm gấp đôi mọi loại hương hoa thượng diệu, mọi loại món ăn với các quả tạp khác, hơn gấp đôi lúc trước dùng để hiến Phật.
Người hành pháp ấy, chỉ trải Toa Thảo dùng làm Tọa Cụ, quỳ gối cung kính hướng mặt ngay trước mặt Tượng. Vào ngày mười bốn với ngày mười năm ở ngay trước mặt Tượng ấy thắp lửa Chiên Đàn, lấy một thăng dầu Tô Ma Na chứa đầy trong vật khí bằng đồng để trước mặt Hành Giả. Lại cần Trầm Thủy Hương thô tế như cái đũa một Thốn 1/3dm, đủ số một trăm lẻ tám đoạn.
Khi ấy Hành Giả, sau giữa ngày. Giờ Ngọ của ngày mười năm về sau, lấy một đoạn Trầm Hương xoa bôi dầu Tô Ma Na, Chú vào một biến rồi ném vào trong lửa thiêu đốt như đã thiêu đốt Chiên Đàn lúc trước, như vậy theo thứ tự hết một ngàn không trăm lẻ tám đoạn.
***