Kinh Đại thừa

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Bồ Tát Tạng Chánh Pháp - Phẩm Bảy - Phẩm Trì Giới Ba La Mật đa

PHẬT THUYẾT KINH

ĐẠI THỪA BỒ TÁT TẠNG CHÁNH PHÁP

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Trúc Pháp Hộ, Đời Tây Tấn
 

PHẨM BẢY

PHẨM TRÌ GIỚI BA LA MẬT ĐA
 

TẬP MỘT
 

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Sao gọi là các Đại Bồ Tát tu tập trì giới Ba la mật đa, tức là rộng tu hạnh thù thắng của Bồ Tát?

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát có ba pháp hành thiện là thân, miệng, ý đều hành thiện.

Sao gọi là thân hành thiện?

Nghĩa là, Bồ Tát xa lìa sát sinh, trộm cắp, tà nhiễm. Đây gọi là thân nghiệp hành thiện.

Lại nữa, Bồ Tát xa lìa nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác. Đây là ngữ nghiệp hành thiện.

Lại nữa, Bo tát không tham, không sân, chánh kiến. Đây là ý nghiệp hành thiện.

Bồ Tát suy nghĩ như vậy: Làm sao thân, miệng, ý thường làm thiện?

Nếu thân không tạo nghiệp thì không có sát sinh, trộm cắp, tà nhiễm. Đây là thân hanh thiện. Nếu miệng không tạo nghiệp thì không nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác. Đây là miệng hành thiện. Nếu ý không tạo nghiệp thì không có tham, sân si, tà kiến. Đây là ý hành thiện.

Lại nữa, Bồ Tát quán sát như thật. Nếu thân, miệng, ý không tạo nghiệp thì đối với các pháp làm gì có biểu hiện. Đối với thân, miệng, ý làm gì có tạo tội. Nếu các màu xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía, biếc, lục sẽ biểu hiện thế nào, thì không có nhãn thức biểu hiện, không có nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức biểu hiện.

Vì sao?

Vì không có năng sinh hay sở sinh, năng khởi và sở khởi. Nếu nó đã không thì làm gì có tạo nghiệp. Bồ Tát nghĩ như vậy rồi, biet rõ giới tướng hiện tiền không có sở tác. Nếu không sở tác thì làm gì có biểu hiện. Nếu không biểu hiện thì làm gì có chấp trước. Như vậy mới gọi là Bồ Tát hành thiện đối với giới tướng cũng không có sở quán.

Nếu đối với giới tướng không có thú hướng thì không có sở quán. Nếu quán như vậy thì không khởi hữu thân kiến. Nếu không khởi hữu thân kiến thì đối với trì giới, phá giới như lý suy xét đều không thấy. Nếu quán như vậy đối với cảnh giới giới pháp, phép tắc không có liễu tri. Như vậy, trì giới đối với mình, đối với người đều không sở đắc, cũng không sở hành.

Nếu đối với mình và người không sở hành thì đối với giới không hủy phạm khiếm khuyết, cũng không chấp thủ, hoặc mình hoặc người đều không sở đắc, giới không sở đắc. Nếu giới không sở đắc thì giới học không hủy phạm. Nếu giới học không hủy phạm thì giới cũng không hủy phạm. Như vậy tức là giới không sở thủ.

Cớ gì không thủ?

Vì tất cả pháp đều không sở thủ.

Thế nên tất cả pháp không tự cũng không tha, đối với vô ngã nên thủ thế nào?

Khi ấy Đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ nghĩa trên, liền lập lại bằng kệ rằng:

Thân nghiệp thanh tịnh miệng cũng vậy

Ý thường thanh tịnh tu tịnh hạnh

Cấm giới thanh tịnh lại thường hành

Đây là Bồ Tát trì tịnh giới

Mười thiện nghiệp đạo rất thù thắng

Bồ Tát trí tuệ khéo quán sát

Đối thân, miệng, ý đều không tu

Đây là người trí trì tịnh giới

Không tu không thắng cũng không thọ

Hình sắc hiển sắc cũng lại không

Nếu quán không hình hiển sắc tướng

Làm sao thấy rõ được các cảnh

Nếu giới vô vi không tu tập

Mắt đối sắc cảnh không thể quán

Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy

Các cảnh không thể làm biểu thị

Căn thức nếu không tướng có ra

Bi tâm nên quán sát như vậy

Đối với thanh tịnh giới cũng không

Giới không sở đắc lại không trụ

Hiểu rõ như vậy không ngã tưởng

Giới không sở hộ khéo hộ giới

Không tưởng giới lại không tu giới

Trọng hạnh bồ đề lìa các kiến

Nếu đối các kiến không sở quán

Không thấy, cũng lại không hiểu biết

Đây là không thấy, xứ cũng không

Trong đó trì phạm không lãnh thọ

Nếu rõ không hộ lý chánh pháp

Pháp tắc của giới chẳng nghĩ bàn

Khéo hay biết rõ môn chơn hộ

Không giới, cũng lại không sở đắc

Vì không ngã tưởng giới không đắc

Không ngã, cũng lại không có giới

Đã nói thường sinh tâm lìa sợ

Tịnh giới chính là lời vô ngã

Giới không lãnh thọ là vô ngã

Giới lại cũng không có y chỉ

Không giới, không cầu, không ngã ngôn

Không trì không phạm không sở thủ

Vì giới không ngã nên không khởi

Không ngã tức là không giới tưởng

Hạnh bồ đề là tuệ sâu xa

Như vậy giới tướng được vô úy

Những ai khuyết phạm cũng không được

Người trì đều nhờ sức thánh hộ

Các pháp không được cũng như vậy

Vì kẻ ngu si nói trì phạm

Lành thay, người khéo hộ tịnh giới

Đối giới thắng quả không trói mở

Vì đoạn các kiến tội không sinh

Cho nên không đọa ba đường ác

Giới không sở trì, không sở thọ

Ngã kiến không sinh tức không đọa

Như vậy đã biết rõ về giới

Đó là không trì cũng không phạm

Nếu đối ngã pháp không thể thấy

Đối với ba cõi cũng không quán

Huống lại trì phạm có sở hành

Như vậy người thấy khéo trì giới.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Mười thiện pháp của Bồ Tát có ra đều là từ tâm ý thanh tịnh, từ hạnh tinh tấn thù thắng, từ tin hiểu nghiệp báo dục rộng lớn thiện tối thắng. Đối với Bậc Thánh luôn thân cận thừa sự, đối với Tôn Sư không khởi phân biệt. Hoặc Thánh hoặc sư đều lãnh thọ chánh pháp, cần cầu không đắm trước, chí cầu bồ đề không tiếc thân mạng.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát trì giới, mười pháp thù thắng như vậy đều từ trong tâm Bồ Tát mà có. Nếu ai có khả năng an trụ mười pháp này thì có thể tích tập các thiện pháp.

Này Xá Lợi Tử! Sao gọi là thiện pháp?

Nên biết, thiện pháp có ba, đó là thân, miệng, ý hành thiện. Nếu các Đại Bồ Tát an trụ thiện hạnh như vậy, đối với chánh pháp Bồ Tát tạng cần cầu tu tập thì được bồ đề.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ nghĩa trên, liền lập lại bằng kệ rằng:

Thân nghiệp luôn luôn tu thiện hạnh

Là lời Chư Phật thường nói thế

Tùy chỗ thân cận A Xà Lê

Thì được đa văn cảnh giới thiện

Bổ đặc già la nghĩa thù thắng

Nên khởi tâm từ lợi chúng sinh

Lời nói diệu hòa không yêu ghét

Người nghe lời nói sinh vui thích

Tùy các pháp tướng không nhuế ác

Ý vui cực thiện đều bình đẳng

Tu tập không sinh tội dục tâm

Từ tâm quán sát thường tôn trọng

Được nghe lời thanh tịnh Như Lai

Phải nên tôn trọng đối chánh pháp

Do nhân tôn trọng với chánh pháp

Cho nên chóng được quả bồ đề.

Nếu Bồ Tát có thể an trú mười pháp này rồi, thì đối với chánh pháp Bồ Tát tạng siêng năng cần cầu tu tập, thân cận hầu hạ các bậc A Xà Lê, làm những việc cần làm, cho đến dâng trà nước.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ Tát có mười thứ phát tâm.

Một là, Bồ Tát phát tâm như vậy: Đau đớn thay! Thân của tất cả chúng sinh bệnh tật sầu khổ áo não, bốn con rắn độc thay nhau làm hại, tích tập các khổ, sinh nhiều tội lỗi, nhiều thứ bệnh trạng xảy ra như ung thư, ghẻ lở, bệnh nhọt, đờm giải, ngứa ngáy.

Khi chịu các căn bệnh như vậy, phải trải qua nhiều gian khổ, càng ngày càng gay gắt, do vậy mà mau chóng tổn hoại, thật là không chắc chắn, ốm yếu gầy mòn, mau đưa đến tử vong, rồi đem vứt xác ngoài nghĩa địa không có một chút vui nào, vậy ta nên làm cho tất cả chúng sinh nhàm chán cái thân giả tạm không chắc chắn này, mà nên mong cầu cái thân chắc chắn chân thật.

Này Xá Lợi Tử! Đây là phát tâm thứ nhất của Bồ Tát. Do phát tâm này, nên Bồ Tát có khả năng cần cầu tu tập chánh pháp Bồ Tát tạng, thân cận hầu hạ các bậc A Xà Lê, làm những việc cần làm, cho đến dâng trà nước.

Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn làm sáng tỏ nghĩa trên, liền lập lại bằng kệ rằng:

Các cõi như rắn độc dữ tợn

Bốn thứ làm chỗ nương cho nhau

Mỗi mỗi khởi lên nhiều nhuế hại

Thân này mang nhiều bệnh khổ não

Mắt, tai hai chỗ sinh các bệnh

Mũi, lưỡi sinh bệnh cũng như vậy

Môi, răng sinh bệnh khổ quá nhiều

Khắp thân mang đủ các căn bệnh

Ung thư mới phát sinh đau khổ

Ghẻ lở lan tràn càng nhức nhối

Còn các bệnh khác lại quá nhiều

Do đó buộc trói khắp toàn thân

Thân này sinh các bệnh khổ não

Tích tập các khổ trên thân này

Không nghĩa, không lợi tổn hại nhiều

Mau chóng tiêu vong thân này diệt

Ném vào nghĩa địa có gì vui

Vô thường mau chóng không chắc chắn

Quán kỹ thân này thối như vậy

Lại thêm chứa nhóm các bệnh khổ

Nên tu hiền thiện các sự nghiệp

Làm nhân thân Phật ở đương lai

Vứt bỏ các thân ác như vậy

Phá hủy suy tàn lại mau chóng

Thành tựu thân Phật đủ các đức

Chẳng thể nghĩ bàn đại pháp thân

Nhìn lại thân chịu khổ như vậy

Đầy cả các lậu không thể vui

Nên biết không có lậu pháp khác

Tức lấy thân này làm nhân lậu

Tạm ở chỗ nóng muốn mát mẻ

Hoặc ở lạnh buốt muốn che chở

Thương thay! Thân này có gì vui

Già chết thường trói tổn hại nhiều

Chán lạnh sợ nóng làm khổ tâm

Tất cả đọa lạc đều phá hoại

Người trí nên tu nghiệp sĩ phu

Nguyện được thân chân thật tối thượng

Kham nhận thân cận A Xà Lê

Nhàm chán thân này thể hư huyễn.

Này Xá Lợi Tử! Đây là phát tâm thứ nhất của Bồ Tát.

Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Hai là, Bồ Tát phát tâm như vậy: Thương thay! Thân của tất cả chúng sinh ở thế gian không chắc thật, đoạn diệt hủy hoại ly tán.

Này Xá Lợi Tử! Ví như người thợ gốm tay nghề khéo léo, làm ra các loại bình tùy cở lớn nhỏ, tuy thấy có thành đó, nhưng đều quy về phá hoại. Thân của chúng sinh ở thế gian từ hư huyễn mà thành, không chắc thật cũng như vậy. Như cây đại thọ, cành nhánh hoa quả sum xuê, tuy được mọi người chăm sóc yêu thích, nhưng lại quy về rơi rớt.

Thân không chắc thật của chúng sinh ở thế gian như quả chín mùi cũng như vậy. Như Trời đêm thanh, các ngọn cỏ đọng từng giọt sương long lanh, sáng ra, Mặt Trời chiếu vào làm tan mất tất cả. Thân không chắc thật của chúng sinh ở thế gian không có lâu dài cũng như vậy. Lại như biển cả, sông ngòi, kênh rạch, dòng nước cứ chảy mãi. Trong nước lại nổi lên những bọt nước, nhưng bọt nước đó co rồi lại không.

Thân của chúng sinh ở thế gian như là bọt nước không có bền lâu cũng như vậy. Lại như Trời đổ cơn mưa, nước nổi lên bong bóng, cứ diệt rồi sinh, không thể tụ lâu. Thân không chắc thật của chúng sinh ở thế gian tự tánh yếu kém cũng như vậy.

Này Xá Lợi Tử! Bồ Tát muốn khiến tất cả chúng sinh nhàm chán thân không chắc chắn như vậy, mà mong cầu thân chắc chắn chân thật. Đây là phát tâm thứ hai của Bồ Tát.

***