Kinh Đại thừa
Phật Thuyết Kinh đại Thừa Bồ Tát Tạng Chánh Pháp - Phẩm Bốn - Phẩm Như Lai Chẳng Thể Nghĩ Bàn
PHẬT THUYẾT KINH
ĐẠI THỪA BỒ TÁT TẠNG CHÁNH PHÁP
Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư
Trúc Pháp Hộ, Đời Tây Tấn
PHẨM BỐN
PHẨM NHƯ LAI CHẲNG THỂ NGHĨ BÀN
TẬP MƯỜI
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề là tự tánh xán lạn, do vậy cho nên ta thành Chánh Giác.
Sao gọi là tự tánh xán lạn?
Nghĩa là tự tánh không bị nhiễm, ngang bằng với hư không, tự tánh của hư không trải khắp tất cả. Vì hư không bình đẳng, cho nên tất cả pháp bình đẳng, tự tánh sáng suốt như vậy, tánh sáng suốt này tùy theo sở ứng mà biết rõ. Các kẻ ngu dị sinh do bị khách trần phiền não làm nhiễm, cho nen không biết được pháp tự tánh sáng suốt. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, cho nên Như Lai chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề là không ra không vào, do vậy nên ta thành Chánh Giác.
Sao gọi là không ra?
Là vì vô tướng cho nên không ra. Lại không ra là vì tất cả pháp không xả.
Không vào là không dính mắc tất cả pháp. Như Lai đối với pháp không ra không vào này quán chiếu bình đẳng. Như Lai không thử không bỉ, tất cả pháp lìa bỉ thử. Vì thế Như Lai hiện thành Chánh Giác. Các chúng sinh không thể hiểu nổi pháp không ra không vào này. Vì muốn khiến tất cả chúng sinh đều giác ngộ, nên Như Lai chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! bồ đề là không tướng, không sở duyên, do vậy nên ta thành Chánh Giác.
Sao gọi là không tướng?
Sao gọi là không sở duyên?
Nghĩa là, nhãn thức không sở đắc, đó là không tướng. Sắc không sở quán, đó là không sở duyên. Cho đến ý thức không sở đắc, tức là vô tướng.
Pháp không sở quán, tức là không sở duyên.
Này Xá Lợi Tử! Pháp không tướng, không sở duyên này là cảnh giới của Bậc Thánh.
Sao gọi là cảnh giới của Bậc Thánh?
Ba cõi là cảnh giới của Bậc Thánh. Các cảnh giới của Bậc Thánh tức là không phải cảnh giới. Kẻ ngu dị sinh không thể hiểu nổi. Vì muốn tất cả chúng sinh đều giác ngộ, nên Như Lai chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề không phải là quá khứ, vị lai, hiện tại. Ba đời bình đẳng, ba luân thanh tịnh, do vậy nên ta thành Chánh Giác.
Sao gọi là ba luân thanh tịnh?
Nghĩa là, tâm quá khứ không chuyển, thức vị lai không hay biết, ý hiện tại không lay động. Nhưng tâm, ý và thức đều không chỗ trụ. Quá khứ không phân biệt, vị lai không lãnh nạp, hiện tại không hý luận. Các chúng sinh không thể hiểu nổi ba pháp bình đẳng, ba luân thanh tịnh này. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, cho nên Đức Như Lai chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! bồ đề là vô vi, do vậy nên ta thành Chánh Giác. Có nghĩa là không phải nhãn thức sở tri, cho đến cũng không phải ý thức sở tri, nên gọi là vô vi. Vô vi tức là không, nhưng đối với pháp hữu vi cũng đều hiểu rõ.
Vì sao?
Vì tự tánh tất cả pháp là không tánh, không tánh tức là không hai. Pháp vô vi không phải là thân chứng, các chúng sinh không thể hiểu nổi. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề là câu không sai biệt, do vậy nên ta thành Chánh Giác.
Sao gọi là không sai biệt?
Sao lại gọi là câu?
Như sở thuyết gọi là câu, không trụ gọi là không sai biệt. Pháp giới gọi là câu, không chủng chủng tánh gọi là không sai biệt. Thật tế gọi là câu, tánh không động gọi là không sai biệt. Không gọi là câu, không sở đắc gọi là không sai biệt. Vô tướng gọi là câu, không tầm từ gọi là không sai biệt. Vô nguyện gọi là câu, không phần vị gọi là không sai biệt.
Không chúng sinh gọi là câu, chúng sinh không tự tánh gọi là không sai biệt. Hư không gọi là câu, không sở đắc gọi là không sai biệt. Không sinh gọi là câu, không diệt gọi là không sai biệt. Vô vi gọi là câu, không sở hành gọi là không sai biệt. bồ đề gọi là câu, cận tịch gọi là không sai biệt. Niết Bàn gọi là câu, không sở chuyển gọi là không sai biệt.
Này Xá Lợi Tử! Các pháp này các chúng sinh không thể hiểu nổi. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai mới chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề không thể đem thân tâm để chứng.
Vì sao?
Vì thân này là vô tri, vô tác, vô chuyển, như cỏ, cây, ngói, đá. Tâm này như huyễn hóa, như bóng trăng in nước, như bóng nắng, cần nên biết rõ như vậy. Nếu thân tâm như vậy thì là bồ đề. Nói như thế là tùy theo sở hành của thế tục, chứ bồ đề không có một pháp nhỏ nào để nói.
Hoặc thân, hoặc tâm, hoặc pháp, hoặc phi pháp, hoặc chân thật, hoặc không chân thật, hoặc thành thật, hoặc hư vọng đều không ngôn thuyết.
Vì sao?
Vì bồ đề không ngôn thuyết, tất cả pháp ấy cũng không có phần vị để dung chứa ngôn thuyết. Cũng như hư không thật không có phần vị, không ngôn thuyết, bồ đề cũng vậy, không có phần vị, cũng không có ngôn thuyết.
Này Xá Lợi Tử! Nếu quán sát điều đó như thật thì tất cả pháp vốn không có ngôn thuyết. Pháp không có ngôn thuyết cũng không phải không thuyết, các chúng sinh không thể hiểu nổi lý của các pháp này. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai mới chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề không dính mắc cũng không hàm tàng.
Sao gọi là không dính mắc?
Sao gọi là không hàm tàng?
Nghĩa là, do biết nhãn cho nên gọi là không dính mắc. Sắc không sở quán nên gọi là không hàm tàng. Cho đến biết rõ ý thì gọi là không dính mắc. Pháp không sở đắc gọi là không hàm tàng.
Này Xá Lợi Tử! Do Như Lai không dính mắc, không hàm tàng, cho nên hiện thành Chánh Giác.
Lại nữa, nhãn không dính mắc, sắc không hàm tàng, thức không chỗ trụ. Cho đến ý không dính mắc, pháp không hàm tàng, thức không chỗ trụ. Thức không trụ kia không trụ vào tâm của tất cả chúng sinh.
Đây sao gọi là biết?
Vì có bốn pháp trụ vào tâm của chúng sinh.
Những gì là bốn?
Là trụ vào sắc, thọ, tưởng, hành thức của tất cả chúng sinh. Bốn pháp này trụ vào tâm chúng sinh, nhưng chỗ trụ ấy cũng không trụ. Như Lai biết rõ tận gốc chân thật của pháp không trụ ấy, nhưng các chúng sinh lại khong hiểu nổi. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai mới chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề là không khái niệm. Do không ấy cho nên bồ đề cũng không, các pháp cũng không. Vì các pháp không ấy, cho nên Như Lai hiện thành Chánh Giác, cũng không phải không, không có sở chứng, hoac không, hoặc bồ đề đồng một lý trí không có hai.
Vì không và bồ đề vốn không hai cho nên pháp không có chủng loại. Do các pháp không hai, không có chủng loại, cho nên không có danh, không có tướng, không hành, rốt ráo không hành không có trong pháp tập. Đây gọi là không.
Trong đó lìa chấp trước kiến thủ, nhưng trong thắng nghĩa đế không có một pháp nhỏ nào có thể được. Vì lý do đó cho nên gọi là không. Nói cái không này cũng như không, vậy cái không này muốn nhấn mạnh là không, cũng không có ngôn ngữ để nói là không, cái không đó cũng không có ngôn ngữ để nói. Đối với cái không ấy, nếu có người hiểu thì tất cả pháp ấy chỉ là mượn danh tự để đặt ra.
Nhưng danh tự ấy không tại địa phương, mà cũng không rời địa phương, như mượn danh tự ấy không tại địa phương mà cũng không lìa địa phương. Do vậy các pháp đều mượn danh mà có ra. Tất cả các pháp cũng vậy, không tại địa phương, cũng không lìa địa phương.
Như Lai biết rõ như thật, xưa nay như vậy, không sinh, không khởi, biết như thật rồi, tự tánh giải thoát, không trói, không mở, nhưng kẻ ngu dị sinh không thể hiểu nổi pháp này. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai mới chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề như hư không nhưng đều bình đẳng, không cao, không thấp. Nếu ai biết các pháp rốt ráo đều không thì cũng có thể nói không cao không thấp.
Này Xá Lợi Tử! Vì tất cả các pháp không cao không thấp, nên Như Lai hiện thành Chánh Giác. Tuy có thành nhưng không có một pháp nhỏ vi trần nào hoặc cao, hoặc thấp mà có thể thi tác, trí như thật biết được các pháp không có bỉ thử.
Sao gọi là trí như thật?
Nghĩa là không có pháp căn bản, tuy là có sở sinh, nhưng không nhiếp thọ, cũng không chủ tể.
Do không chủ tể, không nhiếp thọ, hoặc sinh, không sinh, tùy duyên mà chuyen. Nhưng ở trong đó không có pháp có thể chuyển, cũng không phải không chuyển. Như Lai đối với pháp này cũng không nói tướng đoạn diệt, các chúng sinh lại không thể hiểu nổi pháp đoạn diệt này. Vì muốn tất cả chúng sinh đều giác ngộ, nên Như Lai mới chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề là như sở thuyết cú.
Sao gọi là như sở thuyết cú?
Như bồ đề ấy, sắc pháp cũng vậy, nhưng không lìa chân như. Như bồ đề ấy, thọ, tưởng, hành, thức cũng thế, cũng không lìa chân như. Như bồ đề ấy, địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới cũng thế, cũng không lìa chân như. Như bồ đề ấy, Nhãn Giới, Sắc Giới, thức giới, cho đến ý giới, pháp giới, ý thức giới cũng vậy, không lìa chân như.
Do vậy mà có ra các pháp môn của Bậc Thánh như uẩn, xứ, giới… vì pháp như thật, cho nên Như Lai hiện chứng bồ đề. vì pháp không điên đảo nên hiện chứng bồ đề. Như trước đã nói, sau cũng như vậy, tiền tế không sinh, hậu tế không đến, trung tế lìa tánh.
Như vậy, như sở thuyết cú. Như nói một pháp, nhiều pháp cũng vậy. Như nói nhiều pháp, một pháp cũng thế. Như đã nói hoặc một hoặc nhiều đều không sở đắc, nhưng các chúng sinh lại không thể hiểu nổi như sở thuyết cú. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai mới chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! bồ đề là nhập tướng, nhập vô tướng.
Sao gọi là tướng?
Sao gọi là vô tướng?
Đây nói tướng tức là sinh khởi tất cả thiện pháp. Vô tướng nghĩa là tất cả pháp đều không sở đắc.
Lại nữa, tướng là tâm vô sở trụ phần vị. Vô tướng là pháp vô tướng Tam Ma Địa.
Lại nữa, tướng tức là suy nghĩ, so lường, tính đếm, tìm xét. Vô tướng là vượt qua xưng lường.
Sao gọi là vượt qua xưng lường?
Nghĩa là thức nghiệp là không. Lại nữa, tướng là tìm xét hữu vi. Vô tướng tức là tác chứng vô vi. Tướng này là pháp vô tướng, kẻ ngu dị sinh không thể hiểu nổi, cũng không thể biết. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề là vô lậu, vô thủ.
Sao gọi là vô lậu?
Sao gọi là vô thủ?
Vô lậu là lìa bốn pháp lậu.
Một là lìa dục lậu.
Hai là lìa hữu lậu.
Ba là lìa vô minh lậu.
Bốn là lìa kiến lậu.
Vô thủ là lìa bốn thủ.
Một là lìa dục thủ.
Hai là lìa ngã ngữ thủ.
Ba la lìa kiến thủ.
Bốn là lìa giới cấm thủ.
Bốn thủ này, tất cả đều do vô minh che lấp, nước ái tưới tươi tốt pháp ngã kiến chấp thủ uẩn, xứ, giới. Như Lai đều biết rõ ngã ngữ thủ ấy là căn bản, được ngã thanh tịnh rồi, tất ca chúng sinh đều được thanh tịnh. Pháp thanh tịnh ấy không có phân biệt một pháp nhỏ nào.
Nếu không phân biệt tức là tác ý kiên cố sâu xa. Nếu tác ý kiến cố tương ưng thì vô minh không thể khởi lên. Do vô minh không khởi, cho nên mười hai chi hữu cũng không khởi. Như vậy tức là vô sinh, tức là quyết định. Nếu quyết định tức là nghĩa điều phục. Đó chính là Thắng nghĩa. Trong Thắng nghĩa đế không có Bổ đặc già la. Nếu không có Bổ đặc già la, thì nghĩa không thể nói. Nếu nghĩa không thể nói thì là nghĩa duyên sinh.
Nếu là nghĩa duyên sinh thì là nghĩa chánh pháp. Nếu là nghĩa chánh pháp thì là nghĩa Như Lai. Do vậy nên quán các pháp đều từ duyên sinh. Nếu có the thấy pháp thì là thấy Như Lai, như những gì đã thấy, thì phải như thật suy xét, rốt cuộc không có một pháp nhỏ nào để thấy.
Nếu không có pháp để thấy thì là thấy vô tướng và vô sở duyên, nếu thấy như vậy tức là thấy chân thật. Do pháp này nên Như Lai hiện thành Chánh Giác, vì bình đẳng cho nên bình đẳng, kẻ ngu dị sinh không thể hiểu nổi pháp vô lậu vô thủ này. Vì muốn tất cả chúng sinh giác ngộ, nên Như Lai mới chuyển tâm đại bi.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Bồ đề vốn thanh tịnh, không nhơ, không nhiễm trước.
Sao gọi là thanh tịnh?
Sao gọi là không nhơ?
Sao gọi là không nhiễm trước?
Có nghĩa là, không là thanh tịnh, vô tướng là không nhơ, vô nguyện là không nhiễm trước. Vô sinh là thanh tịnh, vô tác là không nhơ, vô khởi là không nhiễm trước. Tự tánh là thanh tịnh, viên tịnh là không nhơ, sáng suốt là không nhiễm trước.
Không hý luận là thanh tịnh, lìa hý luận là không nhơ, hý luận cận tịch là không nhiễm trước. Chân như là thanh tịnh, pháp giới là không nhơ, thật tế là không nhiễm trước. Hư không là thanh tịnh, thênh thang là không nhơ, rộng lớn là không nhiễm trước. Biết bên trong là thanh tịnh, bên ngoài không sở hành là không nhơ.
Trong và ngoài không sở đắc là không nhiễm trước. Biết uẩn là thanh tịnh, tự tánh giới là không nhơ, xứ lìa các nghiệp là không nhiễm trước. Quá khứ tận trí là thanh tịnh, vị lai vô sinh trí là không nhơ, hiện tại pháp giới an trụ trí là không nhiễm trước.
Này Xá Lợi Tử! Thanh tịnh, không nhơ, không nhiễm trước này có một pháp có khả năng nhiếp tất cả, pháp đó là tịch tĩnh câu. Nếu tịch tĩnh thì là biến tịch. Nếu biến tịch thì là cận tịch. Nếu cận tịch thì là không tịch. Đây chính là điều Mâu Ni Thánh Tôn đã nói.
Lại nữa, này Xá Lợi Tử! Như hư không, bồ đề cũng vậy. Như bồ đề các pháp cũng thế. Như các pháp, chúng sinh cũng vậy, sát độ cũng vậy, Niết Bàn cũng vậy.
Đây gọi là Niết Bàn bình đẳng, là chánh nhân của tất cả pháp, biên tế rốt ráo thanh tịnh, không có đối trị, lìa nhân đối trị, xưa nay thanh tịnh, xưa nay không nhơ, xưa nay không nhiễm trước. Vì biết tất cả pháp hoặc sắc, vô sắc vốn như vậy, nên Như Lai hiện thành Chánh Giác, quán các chúng sinh giới thanh tịnh, không nhơ, không nhiễm trước, liền khởi thần thông du hý, chuyển tâm đại bi đối với chúng sinh.
Xá Lợi Tử nên biết! Tâm đại bi của Như Lai thanh tịnh, không dơ, không nhiễm trước thường vận hành đối với chúng sinh, nhưng lại không chấp trước, không sinh khởi, không quán sát, khắp cả mười phương, tất cả Thế Giới, thênh thang vô ngại.
Này Xá Lợi Tử! Đại bi của Như Lai vô biên vô tận, ngang bằng với hư không. Nếu ai biết cái cùng tận của hư không thì là biết cùng tận đại bi chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai. Các Bồ Tát trụ tin nghe tâm đại bi chẳng thể nghĩ bàn của Như Lai rồi nên sinh lòng tin thanh tịnh, vượt lên sự phân biệt, lìa mọi nghi hoặc, cho đến sinh ý tưởng hy hữu.
***