Kinh Nguyên thủy

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm

PHẬT THUYẾT KINH

ĐẠI THỪA MẬT NGHIÊM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Địa Bà Ha La, Đời Đường
 

PHẨM BỐN

PHẨM HIỂN THỊ TỰ TÁC
 

Lúc ấy, Đại Bồ Tát Hư Không Tạng lại bảo Phạm Thiên Vương: Này Thiên Chủ! Tâm có tám hoặc chín loại cùng vô minh sinh khởi làm nhân cho thế gian.

Thế gian đều do tâm và tâm pháp biến hiện. Tâm, tâm pháp này và các căn, sinh diệt lưu chuyển, bị vô minh làm biến đổi, nhưng tâm căn bản kiên cố không động.

Này Thiên Chủ! Nhân duyên thế gian có mười hai phần, hoặc có căn, hoặc cảnh, sinh, sự sinh chỉ trong sát na hoại diệt.

Từ cõi Phạm Thiên, thế gian cho đến Phi tưởng, Phi phi tưởng đều do nhân duyên sinh khởi, chỉ có Như Lai mới xa lìa các nhân duyên.

Này Thiên Chủ! Pháp thế gian trong ngoài, động và bất động đều như tánh hoại diệt của cái bình.

Này Thiên Chủ! Các thức vi thế biến chuyển nhanh chóng là cảnh giới của Phật còn thế gian, Tiên, Nhân, ngoại đạo không thể thấy biết. Các Tiên Nhân, ngoại đạo bị ái ràng buộc không thể biết tướng sai biệt của tâm.

Này Thiên Chủ! Giả sử có người thường làm những việc ca múa, tán thán, tế tự pháp Tỳ Đa cúng tế trời, trải qua một tháng hoặc bốn tháng, một năm cho đến một ngàn năm, được sinh về cõi Phạm Thiên rồi cuối cùng cũng bị trở lại cõi dưới.

Này Thiên Chủ! Ông biết chăng?

Thực hành ba pháp Tỳ đà được kết quả giống như tánh chất của cây chuối không chắc thật.

Này Thiên Chủ! Sự giải thoát của chư Như Lai ở Cõi Phật mật nghiêm từ trí định mà được, nếu người nào muốn giải thoát thì cần phải tu hành đầy đủ.

Thiên Chủ! Người trong cõi mật nghiêm không có nạn quyến thuộc, sinh tử, tâm của họ không bị các tập khí làm ô nhiễm, như hoa sen vươn lên khởi mặt nước, như hư không, không có bụi trần như mặt trời lên cao xua tan hết mây mù, được tất cả Chư Phật hộ trì, tắm trong dòng giới thanh tịnh, uống nước trí tuệ, vượt qua bờ sinh tử, được giải thoát chân thật.

Này Thiên Chủ! Thân của chúng sinh ở trong các giới, năm uẩn, thức và các pháp đều không thật có. Mắt duyên sắc sinh ra thức, ví như do củi mà có lửa cháy. Tất cả cảnh giới theo vọng thức mà chuyển, như sắt bị hút theo đá nam châm, như sóng nắng, thành Càn Thát Bà, những con nai ngu muội chạy theo vào cảnh huyễn.

Trong cõi này không có chủ thể tạo ra các vật, chỉ do tâm biến đổi của phàm phu.

Này Thiên Chủ! Như thấy nhũng người qua lại nhanh chóng trong thành Càn Thát Bà, nhưng không có thật, thân của chúng sinh lui tới cũng như vậy. Như thấy trong mộng, tỉnh dậy chẳng có. Người thế gian thấy có các uẩn, pháp. Người giác ngộ tâm sáng suốt thì biết các pháp ấy xưa nay vốn tịch tĩnh.

Này Thiên Chủ! Các Thế Giới do vi trần hòa hợp mà thành. Nếu lìa tâm thì không thật có, các vật thế gian có thể tồn tại đều do tứ đại hợp thành. Ví như bệnh phong đàm, vì mê man nên thấy các vật rối loạn. Lại như làm cho thây chết đứng dậy không có người nào tạo ra cả, các pháp thế gian cũng vậy. Các ông nên siêng năng quán sát.

Này Thiên Chủ! Tất cả vật thế gian thường chuyển động như bọt nước tụ lại thành hình, như chiếc bình… tưởng giống như sóng nắng, các thọ khổ, vui giống như bong bóng nước, hành như cây chuối bên trong không có lõi, thức như việc huyễn thuật, giả dối không thật.

Này Thiên Chủ! Pháp động và bất động trong ba cõi đồng với cảnh mộng lúc tâm mê thì hiện, cũng như việc huyễn thuật, thành Càn Thát Bà, chỉ làm mê hoặc phàm phu. Nếu các ông đối với pháp này tâm không sợ hãi, thấy biết chân chánh, dùng lửa trí tuệ thiêu đốt tất cả các nhân duyên hoạn nạn thì liền sinh vào cõi mật nghiêm vi diệu an lạc.

Này Thiên Chủ! Tất cả thế gian đều không có tướng, chấp có tướng là bị ràng buộc, không tướng là được giải thoát. Tướng là cảnh của tâm, cảnh của tâm thì không thật, cảnh giới trí tuệ là pháp chân thật, xa lìa các tướng, ngoài hoạt động của tâm.

Tất cả các tướng là pháp của tam giới, sắc, thanh… pháp đều gọi là tướng, các căn, cảnh, giới là nhân trói buộc tất cả chúng sinh. Nếu đối với các tướng không tham chấp thì dứt trừ các phiền não được an lạc giải thoát.

Bấy giờ, Đại Bồ Tát Bảo Kế ngồi trên tòa báu ở giữa đại chúng, hướng về Đại Bồ Tát Kim Cang Tạng thưa: Tôn Giả là bậc đứng đầu trong chúng Bồ Tát ở các ức Cõi Phật.

Thành tựu trí tuệ tối thượng hiểu rõ các pháp, đều đã thấy rõ vô lượng Tất Đàn, đối với các pháp quán hành có thể dứt hết những đều nghi ngờ cho họ, khéo biết nguồn gốc sinh khởi của thân chúng sinh, có thể ở trong một kiếp hay hơn một kiếp dùng âm thanh vi diệu diễn nói các pháp mà không mỏi mệt.

Vì sao ông không vì các Nhân Giả giảng nói các nhân xa lìa những sự giống như thuận nghịch mà chẳng phải thuận nghịch, thuyết pháp chân thật khiến cho các bậc trí tuệ tâm được thanh tịnh không còn nghi ngờ, xa lìa các nhân duyên, uẩn, chóng được giải thoát. Pháp cùng phi pháp là nhân duyên sinh ra thân này và thân sau, bậc trí có thể thoát khỏi khổ của ái ràng buộc.

Thưa Tôn Giả! Tâm của chúng sinh nhân nơi sắc và ánh sáng mà tác ý duyên theo các cảnh, tâm ấy rất nhanh khó nhận biết được, vì vô minh ái nghiệp làm tán loạn nhiễm ô.

Thưa Tôn Giả! Vô số các pháp trong thân chúng sinh ý là dẫn đầu, là nhanh nhất, là thù thắng, ý cùng tương ưng với pháp hiện đang có, pháp ấy đều lấy ý làm tánh như ngọc ma ni hiện rõ ánh sáng rực rỡ.

Vì sao Nhân Giả không thuyết nghĩa như vậy?

Lại như màu sắc của ngọc ma ni tùy theo mỗi chỗ mà hiện rõ. Nhân Giả cũng như vậy, có đủ hình tướng Như Lai ở trong cung Trời Tự Tại có Chư Thiên vây quanh cũng nên tùy theo đó mà thuyết pháp như vậy.

Khi ấy, Đại Bồ Tát Kim Cang Tạng bảo: Cõi Phật mật nghiêm là tối thắng, tịch tĩnh là trí tuệ và thần thông, là chỗ an trụ của các bậc tu pháp quán hành, xưa nay thường trụ không hoại diệt. Nước không thể thấm ướt, gió không thể làm khô, cũng chẳng phải như cái bình do cố công để làm thành lại bị phá hoại, chẳng phải giống các nhân và không sự thành lập do giống các nhân.

Vì sao?

Vì tông và các phần khác là pháp bất định, các tông và nhân, đều sai khác. Cõi Phật mật nghiêm là thức chuyển y vượt khỏi tâm phân biệt, chẳng phải cảnh hoạt động của các vọng tình.

Cõi Phật mật nghiêm là chỗ của Như Lai chẳng phải do vi trần sinh không có đầu mối, kết thúc, chẳng phải tự tánh sinh, chẳng phải dục lạc sinh, không từ Cõi Trời Ma Hê Thủ La sinh, cũng chẳng phải do vô minh, ái nghiệp sinh, mà là chỗ sinh khởi của trí vô công dụng, vượt qua khỏi lưới tối tăm của Trời, Dục, Sắc, Vô Sắc, Vô Tưởng.

Cõi Phật mật nghiêm A nhã Tất đàn, chẳng phải nhân nơi cảnh giới hiện lượng của bậc trí tuệ, cũng chẳng phải tánh thù thắng tự tại, chỗ hiểm bày của các tông phái Thanh Luận, Tỳ Đà cho đến năng lực trí tuệ của tư lương vi cũng không thể soi tỏ, chỉ là cảnh trí tu hành thanh tịnh của mười phương Như Lai.

Này các Nhân Giả! Tất cả phàm phu mê muội ở thế gian vì nghiệp hay chẳng phải vì nghiệp. Nay ta sẽ giảng nói về nghĩa của nghiệp hay chẳng phải nghiệp khiến cho những người tu thiền định được an lạc.

Vị ấy nói kệ:

Tất cả vật trong ngoài

Thấy được do tự tâm

Tâm chúng sinh hai tánh

Chấp và chấp đối tượng

Tâm thể có hai pháp

Tức tâm thấy các vật

Tánh phàm phu mê hoặc

Tự mình không thể rõ

Các cảnh giới được thấy

Đều là tự mình tạo

Tướng những bình đáng có

Tìm không có thể tánh

Các vị tiên trí kém

Không thể biết rõ ràng

Xa lìa lý chân thật

Theo con đường phân biệt

Tâm này có hai tánh

Như các hình trong gương

Như trăng hiện trong nước

Người nhặm thấy vòng lòa

Vòng lòa, chuỗi anh lạc

Đều là không thật có

Nhưng do bệnh nhặm mắt

Lại thấy có hiện rõ

Bình, vỏ đều do thức

Chúng sinh cũng như vậy

Người hư vọng phân biệt

Không biết luôn chấp thủ

Nhũng chúng sinh và bình

Vô số các hình tướng

Trong ngoài không giống nhau

Tất cả từ tâm sinh

Định mật nghiêm vi diệu

Ngoài các pháp hiện hữu

Nếu có thể tu hành

Ở đó sinh các phước

Được giải thoát Cõi Dục

Và Cõi Trời Sắc Giới

Cho đến Trời Vô Tưởng

Cùng Trời Sắc cánh cung

Cõi không, thức vô biên

Phi tưởng, Phi phi tưởng

Trong các cõi như vậy

Lần tượt trừ tham dục

Ở đó chẳng rốt ráo

Tìm đến cõi mật nghiêm

Các Bồ Tát vây quanh

Giải thoát và tự tại

Ông nên tu định này

Sao còn chấp quyến thuộc

Tướng thân thuộc trói buộc

Nhân sinh tử luân hồi

Tướng nam nữ tham ái

Tinh huyết cùng hòa hợp

Như trùng ở bùn nhơ

Ở trong đó cũng vậy

Chính tháng hoặc mười tháng

Các căn dần thành tựu

Lúc ra khỏi thai mẹ

Như con trùng cựa quậy

Từ đây mà lớn lên

Đến khi tâm hiểu biết

Ta thấy các chúng sinh

Sinh ra cũng như vậy

Cha mẹ có vô số

Vợ con cũng như vậy

Có mặt khắp mọi nơi

Trong tất cả thế gian

Ví như đàn bà đá

Vừa mộng thấy sinh con

Được bồng con vui thích

Tìm lại thấy mất con

Thương khóc không ngừng lại

Bỗng nhiên tỉnh thức dậy

Không thấy có con mình.

Lúc sinh và lúc chết

Lại mộng thấy núi, sông

Đồng trống, thôn, xóm làng

Mọi người đều đông đủ

Cùng nhau làm các việc

Người này giúp người kia

Như Thế Giới có thật

Và từ lúc tỉnh dậy

Tất cả đều chẳng có

Có người nhiều tham dục

Nằm mộng thấy nữ sắc

Hình dáng rất đẹp đẽ

Trang sức đồ quý báu

Ở trong mộng rất vui

Tỉnh giấc thì không thấy

Tất cả pháp thế gian

Nên biết đều như vậy

Ngôi Vua và dân chúng

Cha mẹ cùng thân quyến

Thể tánh đều không thật

Do phàm phu điên đảo.

Ông đối với định này

Sao không siêng tu tập

Vô lượng hàng Thanh Văn

Độc giác và Bồ Tát

Ở nơi chốn vắng lặng

Núi rừng thường tịch tĩnh

Hoặc ở trong biển sữa

Cùng với Ma La Diêm

Tu Di cùng Tẫn Đà

Ma Hê, Nhân Đà La

Kê La Bà Lợi Sư

Cho đến ở núi Tuyết

Hoặc nơi cây Kiếp Ba

Ba Lợi Da Đa La

Dưới cây Câu Tỳ La

Hoặc trên cây Bà La

Ăn vị quả xà phù

Và thức ăn bất tử

Đầy đủ các thần thông

Thường tu pháp quán này

Đời quá khứ, vị lai

Thường ngồi trên hoa sen

Kiết già thân bất động

Chánh định luôn quán sát

Khéo điều phục các căn

Không tán loạn theo cảnh

Như voi bị giam giữ

Lìa dục được tam muội

Nếu ra khỏi thế gian

Trong tất cả các định

Định Phật tịnh không cấu

Tham, ái đều trừ bỏ

Trụ trong định Vô Sắc

Và các Thiền Vô Tưởng

Thấy Trời, Trăng, hoa sen

Tướng nước, lửa, hư không

Nếu lìa các phân biệt

Tâm không còn dao động

Lìa ở trong tam muội

Thấy vô lượng Chư Phật

Một lúc đưa cánh tay

Lấy nước rưới trên đầu

Vào Cõi Phật như vậy

Tất cả đều sáng suốt

Đầy đủ các sắc thân

Tùy nghi mà ứng hiện

Những thần thông tự tại

Tam muội Đà La Ni

Các công đức như vậy

Tất cả đều thành tựu

Phân tích về các sắc

Cho đến quán vi trần

Tự tánh không có thật

Ví như sừng thỏ, hổ

Đều hoàn toàn không có

Các uẩn cũng như thế.

Giống như tạo việc huyễn

Tất cả đều như vậy

Ở đây không nghiệp quả

Cũng không người tạo nghiệp

Thế gian không chủ thể

Dù có chẳng thể tạo

Chủ thể và đối tượng

Sao gọi là chủ thể?

Lời nói này thành sai

Người nói chẳng thanh tịnh

Vì sao lại bảo có

Thủy luân cùng Địa luân

Và chúng sinh, thế gian

Lần lượt mà bày ra

Các nẻo đều khác nhau

Qua lại lẫn đó đây

Ai tạo ra các căn

Vọng tình chấp lấy cảnh

Cảnh này đều phân biệt

Liên tiếp mà biến đổi

Giống như sữa, lạc, tô

Trụ sinh diệt như vậy

Hoặc nghiệp, chẳng phải nghiệp

Đây do vọng chấp sinh

Người định thường xem đây

Như mộng, thành Thát Bà

Chúng sinh xưa đến nay

Bị huân tập hý luận

Sinh khởi các phân biệt

Vô số các lỗi lầm

Các căn giống như huyễn

Cảnh giới đồng như mộng

Chủ thể và nghiệp tạo

Người định không phân biệt

Vọng sinh các ác kiến

Chấp có các chủ thể

Tạo tất cả thế gian

Hoặc ngọc báu ma ni

Và các mỏ vàng bạc

Cầm thú sắc khác nhau

Đầu mũi gai bén nhọn

Nhũng thứ này ai làm

Nên biết không người tạo

Vượt ngoài tánh thế gian

Các duyên tạo vi trần

Chẳng phải không có nhân

Tự nhiên mà có được

Người tâm mê chấp ngã

Không biết thể tánh này

Là nghiệp chẳng phải nghiệp

Như vậy mà phân biệt

Như độc ở trong sữa

Cùng tương ứng biến đổi

Các pháp cũng như vậy

Thường sinh khởi phân biệt

Pháp tánh chẳng phải sinh

Cũng chẳng phải hoại diệt

Người mê không hiểu rõ

Phân biệt đủ các thứ

Người định nên quán sát

Thế gian chỉ tích tụ

Hoặc nghiệp chẳng phải nghiệp

Ở đây chớ tư duy

Các cõi cùng qua lại

Như mặt trời, mặt trăng

Không nương dựa hư không

Theo gió mà vận chuyển

Tánh nghiệp rất sâu kín

Mật Nghiêm có thể thấy

Người tu tập quán hành

Không bị nghiệp ràng buộc

Ví như lửa đốt cây

Chốc lát thành tro tàn

Lửa trí đốt củi nghiệp

Nên biết cũng như vậy

Như đèn sáng phá tối

Một niệm đều dứt hết

Các nghiệp chướng tối tăm

Nhiều kiếp đã huân tập

Đèn trí tuệ Phật chiếu

Sát na đều trừ diệt.

***