Kinh Nguyên thủy

Phật Thuyết Kinh đại Thừa Mật Nghiêm

PHẬT THUYẾT KINH

ĐẠI THỪA MẬT NGHIÊM

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Địa Bà Ha La, Đời Đường
 

PHẨM MỘT

PHẨM HỘI MẬT NGHIÊM
 

Tôi nghe như vậy!

Một thời, Đức Phật ở cõi nước mật nghiêm, ngoài các Cõi Dục, Sắc, Vô Sắc và Vô Tưởng, chứng đắc lực thần thông, đối với các pháp tự tại vô ngại, chẳng phải là chỗ hoạt động của các ngoại đạo và hàng nhị thừa.

Cùng với vô số Đại Bồ Tát ở mười ức Cõi Phật, những vị hành giả tu tập thân cận, tất cả đều vượt khỏi cảnh giới của tâm, ý, thức, đạt được trí như ý, thân vượt khỏi sinh y, thành tựu Tam Muội Như Huyễn Thủ Lăng Nghiêm Pháp Vân.

Các vị Bồ Tát ấy tên Bồ Tát Tồi Dị Luận, Bồ Tát Đại Tuệ, Bồ Tát Như Thật Kiến, Bồ Tát Trì Tấn, Bồ Tát Giải Thoát Nguyệt, Bồ Tát Quán Tự Tại, Bồ Tát Đắc Đại Thế, Bồ Tát Thần Thông Vương, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ Tát Kim Cang Tạng. Những vị Đại Bồ Tát này đều là vị Thượng Thủ.

Bấy giờ, Đức Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác từ Tam Muội Tự chứng trí cảnh hiện pháp lạc trú thần thông biện tài hiện chúng sắc tượng, đứng dậy phát ra ánh sáng như điện chớp hình cầu vòng đẹp đẽ trang nghiêm rồi cùng với các vị Đại Bồ Tát vào trong điện Vô cấu nguyệt tạng, ngồi trên Tòa Sư Tử mật nghiêm, các chúng Bồ Tát cũng đều theo ngồi, đại chúng đã ngồi ổn định.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn nhìn khắp bốn phương, từ giữa chặng mày phát ra ánh sáng hào quang thanh tịnh tên là Kế châu trang nghiêm, có vô lượng ánh sáng xung quanh giao hòa phản chiếu tạo thành lưới ánh sáng.

Khi lưới ánh sáng này chiếu khắp thì tất cả cõi nước Phật đều có tướng trang nghiêm vi diệu giống như vi trần, Cõi Phật mật nghiêm hơn tất cả các Cõi Phật, không có mặt trăng, mặt trời và các ngôi sao, như tánh vô vi chẳng đồng như hạt bụi. Chư Phật và các vị Bồ Tát trong hội mật nghiêm cùng nhiều vị từ khắp các cõi nước khác đến hội này đều như hư không Niết Bàn và Phi trạch diệt vô vi.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn hiện khắp các cõi nước bằng công đức thù thắng của Phật, Bồ Tát rồi lại dùng Phật nhãn nhìn khắp mười phương các chúng Bồ Tát, bảo với Bồ Tát Như Thật Kiến: Này Như Thật Kiến! Nay cõi nước này tên là mật nghiêm, các Bồ Tát từ trong cõi các Sắc, Vô Sắc, Vô tưởng dùng sức tam muội phát sinh lửa trí tuệ thiêu đốt sắc, thọ và vô minh, chuyển chỗ lệ thuộc mà đạt được trí định, dùng lực thần thông của ý sinh thân mà tự trang nghiêm.

Không có chỗ hở, không có thể chất như hình ảnh của mặt trăng, mặt trời, luồng điện chớp, ngọc sáng màu vàng tía, pha lê, san hô, cây Chiêm ba ca, chim công, trăng hoa ở trong gương, nhờ tam muội tự tại trụ ở nơi các cõi hữu lậu thanh tịnh, đầy đủ Thập Nguyện, Thập Hồi Hướng nên được thân vi diệu thù thắng đến đây.

Khi ấy, Bồ Tát Như Thật Kiến ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai phải quỳ gối chắp tay cung kính thưa: Bạch Thế Tôn! Hôm nay con có điều muốn hỏi, xin Đức Như Lai thương xót chấp nhận giảng nói cho con.

Đức Phật bảo: Lành thay! Lành thay! Ông cứ tùy ý hỏi, ta sẽ khai thị giảng nói cho ông.

Bồ Tát Như Thật Kiến liền thưa: Bạch Thế Tôn! Chỉ Cõi Phật này là hơn Cõi Dục, Cõi Sắc, Cõi Vô Sắc, Cõi Vô Tưởng và cõi chúng sinh chăng?

Đức Phật đáp: Này Thiện Nam! Ở phương trên cách đây hơn trăm ức Cõi Phật có các Cõi Phật Phạm Âm, Cõi Phật Ta la Thọ Vương, Cõi Phật Tinh Tú Vương. Ngoài các cõi nước này, lại có vô lượng trăm ngàn cõi nước rộng lớn xinh đẹp với đủ loại trang nghiêm.

Trong các cõi ấy, Chư Phật đều vì các Bồ Tát mà nói pháp hiện lạc trụ, tự chứng trí cảnh, xa lìa các phân biệt, đạt được cảnh giới Niết Bàn, chân như thật tế một cách hoàn toàn. Do đó nên biết ngoài Cõi Phật này còn có vô lượng các Cõi Phật như vậy.

Này Như Thật Kiến! Trong Cõi Phật và hội chúng Bồ Tát này, chẳng phải chỉ có ông đang sinh tâm nghi ngờ muốn thưa hỏi Như Lai, còn có Bồ Tát tên là Trì Tấn cũng nghi ngờ.

Vị ấy liền dùng thần thông bay lên phương trên vượt hơn trăm ngàn ức cho đến như hằng hà sa Thế Giới Chư Phật nhưng cũng không thể một lần nhìn thấy được đỉnh đầu của Như Lai, tâm nên thán phục tưởng đến sự không thể nghĩ bàn của Phật, Bồ Tát rồi trở lại Thế Giới Ta Bà trong thành Xá Vệ, đến chỗ của ta sám hối tội lỗi rồi tán thán vô lượng Chư Phật giống như hư không và trụ ở trong cảnh tự chứng, đến nước mật nghiêm.

Lúc ấy, trong chúng hội có Bồ Tát Kim Cang Tạng có thể khéo giảng nói về tướng của các cõi vi diệu, xác định rõ hết nguồn gốc, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bên phải, quỳ gối sát đất, chắp tay cung kính thưa: Bạch Thế Tôn! Con đối với pháp của Đấng Như Lai Ứng Chánh Giác muốn thưa hỏi, xin Đức Phật từ bi giảng nói cho con.

Đức Phật bảo Kim Cang Tạng: Ông có điều gì cứ hỏi, Như Lai sẽ tùy thuận theo tâm của ông mà khai thị giảng nói.

Được Đức Phật cho phép Bồ Tát Kim Cang Tạng liền thưa: Bạch Thế Tôn! Phật giác ngộ là nghĩa thế nào?

Đã giác ngộ rồi sao lại thỉnh giảng nói pháp tánh để hiển bày cảnh giới đệ nhất nghĩa. Trừ Phật quá khứ, vị lai, hiện tại, những người đang tu hành còn thấy sắc tưởng và chấp theo luận thuyết ngoại đạo, vẫn còn khởi cảnh phân biệt nhiều hơn cả vi trần.

Tánh tự tại mới là như hư không, ngã, ý, căn, cảnh hòa hợp, những sự thấy như vậy lại có chấp thủ, vô minh, ái nghiệp, nhãn sắc và minh, bấy giờ lại có xúc và tác ý, các pháp này lại làm nhân duyên, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên hòa hợp sinh ra thức nhớ nghĩ hư vọng, rồi khởi các thứ luận bàn về có không. Ở trong pháp này, lại có những người đối với năm uẩn của chúng sinh rơi vào kiến chấp về tánh không.

Vì để đoạn dứt sự biết phân biiệt vọng tưởng như vậy, xin Thế Tôn nói về sự biết rõ xa lìa năm thức chúng con mới có thể đối với các pháp được tự tại, hiểu biết về nghĩa giác ngộ của Phật, làm cho những người nghe đều được giác ngộ như Phật, biết rõ năm thứ uẩn để chứng đắc quả vị Chánh Giác.

Đức Phật bảo Đại Bồ Tát Kim Cang Tạng: Lành thay! Lành thay! Này Kim Cang Tạng! Mười Địa tự tại vượt qua cảnh giới phân biệt, bậc có trí tuệ lớn có thể hiển bày.

Chủng tánh Phật pháp là tối thượng, quý báu chẳng phải chỉ mình ông đối với ý nghĩa sự giác ngộ của Phật mà sinh tâm mong cầu muốn thưa hỏi ta còn có vô lượng Bồ Tát trong những hiền kiếp do ý nghĩa này cũng khởi tâm mong cầu hiếm có, suy nghĩ đủ cách để hỏi Phật: Như Lai là nghĩa gì?

Sắc là Như Lai chăng?

Đối với uẩn, giới xứ và các hành cũng như vậy, trong ngoài mong cầu cũng không thấy được Như Lai, đây điều là những việc làm hoại diệt chánh pháp, dùng trí thiền định quán sát kỹ thậm chí phân tích nhỏ như hạt bụi đều không thể thấy được vì các uẩn thô xấu, còn Như Lai là pháp thân thường trụ.

Lành thay! Thiện Nam! Ông có thể vào sâu pháp giới, lắng nghe và khéo nhớ kỹ, ta sẽ nói rõ cho ông.

Đại Bồ Tát Kim Cang Tạng đáp: Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời.

Đức Phật nói: Này Thiện Nam! Tạng Kim Cang Tam Muội thù thắng tự tại, Như Lai chẳng phải uẩn cũng không khác uẩn, chẳng phải nương nơi uẩn, chẳng phải không nương nơi uẩn. Chẳng phải sinh, diệt, chẳng phải trí, chẳng phải không trí, chẳng phải căn, chẳng phải cảnh.

Vì sao?

Vì uẩn, giới, xứ các căn, cảnh đều là thô xấu, không thể trụ ở bên trong hay bên ngoài mà thấy được Như Lai.

Này Thiện Nam! Sắc không có giác tri, không có suy nghĩ, sinh rồi chắc chắn sẽ diệt giống như các loại cỏ cây, ngói đá, hạt bụi tụ hợp lại, như bọt nước. Thọ do hai pháp hòa hợp mà sinh giống như bong bóng nước như bình và vỏ.

Tưởng cũng do hai nhân duyên hòa hợp mà sinh như sóng nắng. Ví như Trời quá nắng, mặt đất bốc hơi nóng lên, ánh sáng mặt trời chiếu vào trông như sóng nước, những con ngựa vì quá khát, từ xa trông thấy tưởng là nước thật, tưởng cũng như vậy, không có thể tánh, hư vọng không thật.

Người phân biệt thấy như có tánh, thể, tướng và tên gọi khác nhau. Người tu định thì quán như sừng thỏ, như con của Thạch Nữ, chỉ là giả danh không có thật. Như trong mộng thấy sắc là chỉ do vọng tưởng mà thấy, tỉnh mộng liền chẳng có.

Trong giấc mộng vô minh thấy có các thứ hình sắc nam nữ, lúc thành Chánh Giác thì không còn thấy. Ví như cây chuối lột bỏ hết vỏ thì bên trong không có lõi, hành cũng như vậy, xa lìa thân và cảnh thì không có thể tánh. Thức như việc huyễn, giả dối không thật.

Ví như ảo thuật gia hay đệ tử của ông ta dùng các thứ cỏ, cây… giả làm hình người, voi, ngựa đủ thứ hình hài đẹp đẽ, người ngu tham cầu tướng huyễn ấy, người trí sáng suốt thì không như vậy. Thức cũng như thế, nương nơi các thứ khác mà có sự phân biệt chỉ do năng thủ, sở thủ mà sinh ra. Nếu tự mình hiểu rõ thì diệt mất, do đó thức không có thực thể giống như việc huyễn.

Này Kim Cang Tạng! Như Lai thường trụ không biến đổi. Trong cảnh giới tu pháp quán hành nhớ nghĩ đến Phật gọi là Như Lai tạng. Giống như hư không, không thể hoại diệt, gọi là cảnh giới Niết Bàn, cũng gọi là pháp giới.

Chư Phật Thế Tôn thuở quá khứ, hiện tại, vị lai cũng đều theo như đây mà tuyên thuyết. Như Lai xuất hiện ở đời hay không xuất hiện ở đời thì tánh này vẫn thường hằng gọi là pháp trụ tánh cũng gọi là pháp Ni Dạ Ma tánh.

Này Kim Cang Tạng! Thế nào gọi là Ni Dạ Ma?

Điều ác đời sau nhờ đây mà xa lìa, lại tam muội này có thể quyết định diệt trừ các điều ác về sau, do nghĩa này nên gọi là Ni Dạ Ma. Nếu có người trụ trong tam muội này, đối với các chúng sinh tâm không còn vướng mắc thì chứng được thực tế Niết Bàn giống như thanh sắt nóng bỏ vào trong nước mát lạnh.

Các Bồ Tát xả bỏ, không dừng lại nơi chỗ chứng đắc, thường vì chúng sinh mà làm lợi ích, không lìa tinh tấn, đại bi và các Ba la mật, không đoạn giống Phật, không đi theo con đường của nhị thừa, ngoại đạo. Như voi có sức mạnh lớn không bị lún vào bùn Tam Muội.

Tâm không đắm trước cảnh giới của thức, đối vối pháp môn của Phật thường không thoái chuyển, dùng trí tuệ rốt ráo hội nhập vào pháp thân của Phật, hiển bày oai đức rộng lớn của Như Lai, thành Bậc Chánh Giác, chuyển diệu pháp luân, trí dùng bằng cảnh các sắc làm tư lương nhập vào định của Như Lai ở trong cảnh Niết Bàn.

Lần lượt tu hành vượt khỏi tám Địa, khéo dùng phương tiện tu tập đạt đến địa thứ mười, nhờ oai đức rộng lớn của Như Lai trụ nơi cõi tự chứng của Chư Phật cùng tương ứng với tam muội vô công dụng đi khắp mười phương mà không rời khỏi chỗ cũ, thường nương Cõi Phật mật nghiêm của Phật mà chuyển sinh y của mình.

Thân bằng trí, định, ý, có sức thần thông tự tại đều được đầy đủ, ví như bóng trăng giữa không trung hiện khắp các dòng nước.

Đức Phật cũng như vậy, hóa hiện thân hình khắp các thế gian tùy theo tâm ưa thích của chúng sinh làm cho người nhìn thấy đều được lợi ích, lại khiến họ đến cõi mật nghiêm tùy theo căn tánh ưa thích dần dần khai thị giáo hóa, vì tất cả chúng sinh ở Cõi Dục, Cõi Trời Tự Tại và các Bồ Tát mà thuyết pháp, đem đến sự lợi ích an lạc cho các cõi, mười phương Cõi Phật công đức trang nghiêm đến đời vị lai tùy theo căn cơ mà ứng hiện.

Nhờ Trì Chú An thiện na dược mà ở chung với các vị thần cung điện Tiên linh và người nhưng họ không thể thấy được, Như Lai thị hiện biến hóa rồi lại trụ trong thân chân thật không hiện nữa, cũng như vậy.

Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Căn uẩn như đống rắn

Xúc cảnh giới làm duyên

Nghiệp si ái đã sinh

Không thoát được phiền não.

Tâm và các tâm sở

Lo nghĩ mãi không an

Giác quán bị quấn quanh

Như rồng bị quấn chặt.

Độc sân từ đây khởi

Như ngọn lửa cháy mạnh

Người tu pháp quán hành

Là bỏ các pháp uẩn.

Nơi đây thường quán sát

Nhất tâm không biếng trễ

Ví như giữa hư không

Không cây mà có hình.

Đường gió cùng dấu chim

Thấy được đều rất khó

Năng tạo, pháp được tạo

Sắc cùng chẳng phải sắc.

Thấy Như Lai ở đó

Cũng đều khó như vậy

Các chân như thật tế

Và thể tánh Chư Phật.

Chỗ thực hành tự chứng

Vượt các cảnh ngôn ngữ

Niết Bàn gọi là Phật

Phật cũng là Niết Bàn.

Lìa các tưởng phân biệt

Làm sao có thể thấy

Vàng vụn nơi quặng vàng

Trong quặng không thấy vàng.

Người trí khéo luyện nấu

Vàng rồng mới hiện ra

Nghiền nát hết các sắc

Cho đến thành bụi nhỏ.

Và phân chia các uẩn

Hoặc một hoặc tánh khác

Tánh Phật không thể thấy

Chẳng phải không có Phật.

Người định quán Như Lai

Đủ ba mươi hai tướng

Cùng những sự khổ vui

Thể hiện đều rõ ràng.

Vì thế không nên nói

Như Lai là không có Phật

Tam muội nhất duyên Phật

Thiện nhân, thiện căn.

Phật Nhất Thiết Thế Thắng

Và Phật Chánh Đẳng Giác

Năm vị Phật như vậy

Ngoài ra đều biến hóa.

Ba mươi hai tướng tốt

Như Lai tạng có đủ

Nên Phật chẳng phải không

Người định có thể thấy.

Vượt ra khỏi ba cõi

Vô lượng các nước Phật

Cõi Như Lai vi diệu

Thanh tịnh nhiều đệ tử.

Định, tuệ cùng tương ưng

Thành tựu tánh kiên cố

Đến cõi nước mật nghiêm

Tư duy oai đức Phật.

Người trong hội mật nghiêm

Tất cả đồng như Phật

Vượt qua sát na diệt

Thường ở trong tam muội.

Thế Tôn có định lớn

Trụ thiền định vắng lặng

Các tướng tốt công đức

Trong ngoài đều trang nghiêm.

Các thân Phật biến hóa

Từ Cõi Đâu Suất xuống

Phật thường ở mật nghiêm

Hiện thân từ cõi ấy.

Trụ chánh định chân thật

Tùy duyên hiện các hình

Như trăng giữa hư không

Bóng hiện khắp trong nước.

Như ảnh các viên ngọc

Hợp sắc nên mắt thấy

Như Lai trụ chánh định

Hiện thân cũng như vậy.

Ví như hình và tượng

Chẳng phải một, chẳng khác

Đấng Trượng Phu tối thắng

Thành tựu các sự nghiệp.

Chẳng phải tánh vi trần

Không thời, không tự tại

Cũng chẳng ngoài các duyên

Mà hiện ở thế gian.

Như Lai dùng tánh nhân

Trang nghiêm tự báo thân

Tùy cõi mà ứng hiện

Tất cả đều thấy rõ.

Tự tại nơi tam muội

Trong ngoài đều thể hiện

Sông, núi và rừng vắng

Bạn bè các quyến thuộc.

Mặt trời, trăng và sao

Ánh sáng hiện hình tượng

Như vậy, các thế gian

Bao hàm hết trong thân.

Đặt trong lòng bàn tay

Nhỏ bằng như hạt cải

Phật thiền định tự tại

Đấng Mâu Ni tối thắng.

Thế gian không thể làm

Chỉ do Phật biến hóa

Người vô trí mù tối

Chạy theo vọng phân biệt.

Chấp trước nơi hữu vô

Có ngã hoặc không ngã

Hoặc nói tất cả diệt

Hay chỉ diệt một phần.

Những người như thế ấy

Thường tự làm hại mình

Vì sao ở trong đây

Lại sinh các kiến chấp.

Phật ở khắp ba cõi

Bậc Đại Sư quán hành

Xem đời như thành càn

Tạo tác ra các việc.

Cũng như sắc trong mộng

Loài vật khát tìm nước

Do các thứ gió nghiệp

Ràng buộc bị thoái lui.

Phật ở trong phương tiện

Thấy, biết đều tự tại

Ví như người thợ giỏi

Khéo điều khiển máy móc.

Cũng như người thuyền trưởng

Giữ lái mà chuyển động

Như Lai rất vi diệu

Tịch tĩnh không biên giới.

Vượt các căn chấp trước

Chứng đắc được tịnh căn

Người tu hành định này

Nương vào định vi diệu.

Tất cả người tu quán

Hiểu rõ chỗ trụ tâm

Tánh Phật rất thanh tịnh

Chẳng có cũng chẳng không.

Xa lìa các giới hạn

Không lệ thuộc căn trần

Tâm tương ưng diệu trí

Của cảnh giới tối thượng.

Biết tướng đều không tánh

Tức là thấy Như Lai

Phá các tâm phiền não

Chẳng chấp vào tam muội.

Trụ nơi đạo thanh tịnh

Tất cả chẳng nhiễm ô

Chư Thiên, Càn Thát Bà

Tu La, Khẩn Na La.

Tiên Nhân và ngoại đạo

Tán thán và cúng dường

Nơi ấy không mê đắm

Và tạo nghiệp thế gian.

Trụ ở chỗ thanh tịnh

Khế hợp với diệu lý

Các trời, người nhìn thấy

Tạo tác của biến hóa.

Phật chẳng hiện đây, kia

Như mặt trời, mặt trăng

Trụ ở đạo viên mãn

Hiện trừ các cống cao.

Đối các phái ngoại đạo

Tùy nghi mà nhiếp phục

Vô số các pháp trí

Chủ luận bốn Vệ Đà.

Đều là các Như Lai

Nương sức định mà thuyết

Các quốc vương, vương thần

Cho đến chốn núi rừng.

Tất cả các phép tắc

Đều do Phật sinh ra

Mười phương các kho báu

Phát sinh ngọc thanh tịnh.

Là oai thần tự tại

Của Đấng Thiên Trung Thiên

Tất cả trong ba cõi

Có những người trí sáng.

Tạo vô số phương tiện

Nhờ Phật mà thành tựu

Hiện từ Cõi Đâu Suất

Các thể nữ vây quanh.

Ca hát và đùa vui

Đêm ngày thường tụ tập

Hoặc như Kiên Lợi Chí

Cư Sĩ Xá Lăng Ba.

Đoạn dứt và ra khỏi

Cảnh ràng buộc thế gian

Tuy ở tất cả chỗ

Hiện làm người trí sáng.

Trong trang nghiêm sâu kín

Tịch nhiên không lay động

Cảnh Mâu Ni lớn này

Kẻ ngu sinh phân biệt

Như người bệnh nhặm mắt

Giống bày thú khát nước

Quán thấy đời như huyễn

Như được ở trong mộng

Cảnh giới của Như Lai

Phật Tử thấy chân thật

Người tu quán như vậy

Từ mê đến giác ngộ

Na La cùng Y Xá

Phạm Thiên, Bà Đán Na

Nan Đà, Cưu Ma La

Cùng Kiếp Tỷ Thủ Ca

Chỗ thiền định quán xét

Nơi đây thường mê hoặc

Đời khứ, lai, hiện tại

Tất cả các Mâu Ni

Bị phiền não che tâm

Cũng chẳng thể thấy được

Lành thay Kim Cang Tạng

Đi khắp trong các cõi

Là nhờ oai thần Phật

Được ở cõi mật nghiêm

Cảnh giới của ông đây

Ta nay vì ông nói

Hoặc có vọng phân biệt

Tánh thù thắng vi trần

Như người thợ tạo ra

Đủ hình tướng các vật

Sinh chỉ là pháp sinh

Diệt cũng là pháp diệt.

Vọng chấp tất cả vật

Chỗ tạo tác vi tế

Từ nhân rõ ở quả

Ví như đèn chiếu vật

Trước không được tướng vật

Đèn tắt rồi cũng vậy

Chẳng phải trong quá khứ

Có tánh nắm bắt được.

Vị lai cũng như vậy

Lìa duyên không có tánh

Mỗi mỗi duyên bên trong

Biến tìm không có thể

Không thấy tánh có, không

Cũng không thấy không có

Các uẩn như bình, vỏ

Vi tế mà phân biệt

Có ba trăm sáu mươi

Đại tà hoại đạo chánh

Qua lại trong sinh tử

Không có pháp Niết Bàn.

***