Kinh Nguyên thủy

Phật Thuyết Kinh Diệu Tý Bồ Tát Sở Vấn

PHẬT THUYẾT

KINH DIỆU TÝ BỒ TÁT SỞ VẤN

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Pháp Thiên, Đời Tống
 

PHẦN PHẦN NĂM

NÓI VỀ CHÀY KIM CƯƠNG

TẦN NA DẠ CA CHI KHÁC
 

Lại nữa, vào lúc hành nhân trì tụng cúng dường cho đến lúc Hộ Ma. Nếu chẳng y theo pháp hoặc thiếu sót nghi tắc thì loài gây chướng sẽ được dịp hãm hại.

Hoặc nếu hành nhân khởi tâm chẳng quyết định và có sự nghi hoặc như: chân ngôn này đáng tụng ư?

Chân Ngôn kia có thể tụng được ư?

Nếu khởi lên niệm ấy thì loài gây chướng liền có dịp hãm hại.

Lại nữa, nếu hành nhân hay đàm luận các chuyện không đâu của thế gian cho đến chuyện làm ruộng, chuyện buôn bán … ở ngay trong sự tu hành không có nghĩa lợi thì các loài gây chướng kia sẽ có dịp hãm hại.

Loài Tần Na Dạ Ca ấy nhập vào thân của hành nhân, tùy theo mỗi bộ tương ứng, tìm kiếm chỗ yếu của hành nhân để gây các chướng nạn khiến cho minh pháp vidya dharma chẳng thành.

Ví như một người đi ven bờ sông, thân ở trên bờ mà ảnh in lên mặt nước, mỗi một bước cùng theo nhau chẳng hề buông bỏ. Tương tự như thế, khi loài gây chướng đã nhập vào thân hành giả cũng chẳng chịu buơng bỏ như bóng theo hình.

Hoặc có loài Tần Na Dạ Ca nương theo lúc tắm rửa để nhập vào thân. Hoặc có loài Tần Na Dạ Ca nương theo lúc niệm tụng để nhập vào thân. Hoặc có loài nương theo lúc ngủ say để nhập vào thân. Hoặc có loài nương theo lúc dâng hương hoa để nhập vào thân.

Ví như Mặt Trời soi vào cầu lửa, do nhân duyên ấy mà phát sinh ngọn lửa. Loài Tần Na Dạ Ca ở tại thân hành nhân, do tìm được chỗ yếu khiến cho hành nhân loạn tâm mà khởi dậy ngọn lửa: Tham lam Rāga, Lobha sân hận dveṣa vô minh Avidyā.

Như loài Tần Na Dạ Ca nương theo lúc tắm gội, tìm được chỗ yếu nhập vào thân người, khiến cho hành nhân khởi các lỗi lầm tai hại như: Đột nhiên cảm thấy đói khát và suy niệm đến việc ăn uống. Hoặc khởi niệm giải đãi, lười biếng. Hoặc ham ngủ say. Hoặc khởi các niệm sân hận, ganh ghét.

Như loài Tần Na Dạ Ca nương theo lúc hiến hương hoa, tìm được chỗ yếu nhập vào thân người, liền khiến cho hành nhân khởi các lỗi làm tai hại như: Thương nhớ quê hương, đất nước, nơi sinh trưởng. Hoặc khởi ý tưởng tham muốn phân biệt các cảnh màu nhiệm.

Như loài Tần Na Dạ Ca nương theo lúc đốt hương, tìm được chỗ yếu nhập vào thân người, liền khiến cho hành nhân khởi các lỗi lầm tai hại như: Sinh lòng ganh ghét, đố kỵ. Hoặc phát khởi niệm sân hận, hoặc khởi tà kiến, hoặc nghĩ đến chuyện tà dâm.

Như loài Tần Na Dạ Ca nương lúc dâng đèn, tìm được chỗ yếu nhập vào thân người, liến khiến cho hành nhân phát khởi tâm bệnh như: Tâm phiền muộn đau khổ cho đến tâm bị tổn hoại.

Như loài Tần Na Dạ Ca nương theo lúc hiến hoa, tìm được chỗ yếu nhập vào thân người, liền khiến cho hành nhân khởi các lỗi lầm tai hại như: Thân bị sốt cao, thân thể bị đau nhức, hoặc tranh đấu với bạn hữu Trợ bạn cho đến nỗi phải ly tan.

Như loài Tần Na Dạ Ca nương theo lúc niệm tụng, tìm được chỗ yếu nhập vào thân người, liến khiến cho hành nhân khởi các lỗi lầm tai hại như: Bị bệnh phiền não, hoặc thân thể bị đau nhức khi trời lạnh, hoặc khi bị đau bụng, hoặc bị kiết lỵ.

Lại nữa, các loài Tần Na Dạ Ca đã nhập vào thân người rồi, liền khiến cho các hành nhân khởi các lỗi lầm tai hại, khi ma chướng đã đã thịnh thì tâm bị mê hoặc như: Chẳng phân biệt được phương hướng Đông Tây, hoặc thấy những tướng quái dị, hoặc tự niệm tụng lời chẳng rõ ràng.

Hoặc không có chuyện gì mà cứ đi lại chẳng an định, hoặc tâm chẳng quyết định được liền khởi tà kiến, hoặc nói là không có ai sinh về Cõi Trời và không có ai bị tội, hoặc nói là không có sự tu hành chắc chắn và không hề có Thánh lực, hoặc niệm xuông chân ngôn để tự chuốc lấy đau khổ.

Hoặc nói là: Không có thiện, không có ác, không có nhân, không có quả, luôn nói lời rối loạn, ỷ ngữ… cho đến biểu hiện mọi thứ không bình thường như: Dùng tay bẻ gảy cây cỏ hay nghịch đất cát, hoặc vọng khởi dục tưởng yêu thích người nữ, nếu các người nữ kia chẳng chịu vui thú với hành nhân hoặc sự yêu thích kia chẳng thuận theo tâm của hành nhân thì người ấy sẽ thao thức suốt đêm chẳng thể ngủ nghĩ.

Hoặc lúc nằm ngủ gặp phải các mộng ác như: Thấy các loài Xá Ly Noa La, Sư Tử, Sói, Chó… rượt đuổi. Hoặc thấy các loài Lạc Đà, Lừa, Lợn, Mèo, Dã Can. Hoặc thấy các loài chim Thứu, chim Lộ Tư, Khỉ, Cáo, các loài quái dị biết bay. Lại thấy ngoại đạo lõa thể với vật trang sức làm bằng các thứ xương ướt, xương khô.

Hoặc mộng thấy người thấp bé độc ác, người xấu xí râu đỏ. Hoặc thấy xương đầu lâu ở giếng khô, ao khô. Hoặc nằm mộng thấy nhà cửa bị phá hoại và người ta bỏ đi. Hoặc nằm mộng thấy người ác cầm thương, kiếm, các thứ khí trượng muốn đến xâm phạm.

Nằm mộng thấy các việc như thế thì biết chắc chắn là loài Tần Na Dạ Ca gây khó khăn chướng ngại. Lúc ấy, người Hành Trì Tụng liền làm pháp Cam Lộ Quân Trà Lợi Phẫn Nộ Minh Vương Amṛta kuṇḍali Krodha vidyarāja với niệm chân ngôn hộ thân để vượt khỏi các ma chướng và khiến cho loài Tần Na Dạ Ca chẳng xâm não được. Nếu thường Trì chân ngôn này thì tất cả ma chướng không tìm được chỗ thuận tiện để nhập vào được.

Lại nữa, nếu người hành Trì Tụng muốn làm pháp giải trừ ma chướng để cầu sự giải thoát. Trước hết, phải thỉnh vị A Xà Lê Ācārya có uy đức thanh tịnh đứng Chủ Đàn. Sau đó, có thể ở trong núi, ven sông, dưới gốc cây, nhà an tịnh trong làn ấp hoặc con đường ở ngã tư thanh tịnh. Được chốn ấy rồi, dùng phấn Ngũ Sắc vẽ Man Đa La Maṇḍala.

Đàn Giới năm màu là: Vàng pīta, xanh Nīla, đỏ Lohita, trắng Avadāta, đen Kṛṣṇa.

Man Đa La được vẽ theo hình vuông, mỗi cạnh dài bốn khuỷu tay, có bốn cửa. Chính giữa đào một cái hố vuông, mỗi cạnh dài hai khuỷu tay rồi rải cỏ Cát Tường vào trong hố, bốn mặt ngoài cái hố chưa bày, án trí nơi chốn của chân ngôn Chủ Minh Vương. Ở tám phương lại dùng phấn vẽ Thiên Thần Devatā của bản phương.

Dùng bốn bình báu hoặc thay bằng bốn bình sành sứ, bình sành sứ chẳng được dùng màu đen và sứ không được nung quá già hay quá non. Trong bình chứa đầy năm loại lúa gạo, năm loại báu với nước thơm. Lại lấy hoa sen đỏ với các loại hoa cắm vào trong bình. Dùng chỉ Ngũ Sắc Pañca varṇa sutra cột quanh cổ bình.

Xong rồi đặt bốn bình ở bốn phương làm Pháp Quán Đỉnh. Lại dùng rượu thịt, các thứ rau quả đem cúng dường các Thiên Thần ở tám phương với loài Tần Na Dạ Ca gây chướng. Sau đó người bị chướng nạn ngồi lên trên cái hố cỏ ở trong Đàn, quay mặt về phương Đông.

Vị A Xà Lê Tụng Cam Lộ Quân Trà Lợi Phẫn Nộ Minh Vương gia trì vào các cái bình ở bốn phương, mỗi bình gia trì bảy biến Chú. Tụng đủ số rồi, y theo pháp làm các Pháp Sự. Xong rồi, vị A Xà Lê lấy nước trong bình rưới lên đỉnh đầu của người bị chướng. Như vậy, người bị chướng này liền được giải thoát khỏi nạn ma chướng.

Ma Đa La này chẳng phải chỉ dùng riêng để giải thoát ma chướng mà còn có thể giảm trừ tất cả tội và tăng thêm vô lượng phước. Nếu y theo pháp tu trì thì không có điều gì mà không được hiệu quả ứng nghiệm.

***