Kinh Nguyên thủy

Phật Thuyết Kinh Nhân Duyên Con Gái Trưởng Giả Cấp Cô độc

PHẬT THUYẾT KINH

NHÂN DUYÊN CON GÁI

TRƯỞNG GIẢ CẤP CÔ ĐỘC

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Thi Hộ, Đời Tống
 

PHẦN BỐN
 

Bấy giờ La Hầu La hiện thân Chuyển Luân Vương, trụ trên không trung nói kệ:

Ta đang hiện thân Chuyển Luân Vương.

Dùng sức thần thông nên như vậy

Như rồng có sức ta cũng thế

Bảy báu bốn binh đều đầy đủ.

Thân đang hiện này chẳng phải thật

Tùy nghi dùng phương tiện thần thông

Trưởng giả cần phải biết rõ rằng

Ta là Phật tử La Hầu La

Đã chứng đắc đủ các thần thông

Trời người đều quy kính cúng dường

Ta vâng lệnh Phật nên tới đây

Đại Sư Mâu Ni sắp đến sau.

Tôn Giả La Hầu La nói kệ xong, hạ xuống rồi vào nhà trưởng giả. Các vị Bí Sô có thần thông như vậy, đều vâng lệnh Đức Phật thị hiện thần thông đủ loại tuần tự đi vào nhà trưởng giả, chờ đợi Đức Phật đến.

Bấy giờ Đức Thế Tôn biết đã đúng lúc, liền nhập Tam Ma Địa quán sát khắp nơi. Khi Ngài ra khỏi quán Tam Ma Địa, toàn than xuất hiện nhiều loại hào quang, màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng tươi đẹp thanh tịnh. Ánh sáng như vậy rộng lớn rực rỡ, chiếu khắp nước Xá Vệ, cho đến tất cả dân chúng trong thành Phước Tăng cũng được hào quang soi sáng.

Nhờ thần lực của Đức Phật nên họ đều thấy than tướng Phật, trong ngoài sáng rực không ngăn ngại. Khi Đức Phật phóng hào quang thì đại địa chấn động. Đức Thế Tôn mặc y Tăng Già Lê, cùng tất cả các vị tùy tùng, các Bí Sô Côn Nỗ Bát Đà Na và đại chúng vây quanh trước sau, ra khỏi thành Xá Vệ đi đến thành Phước Tăng.

Bấy giờ Đại Phạm Thiên Vương, chủ Thế Giới Ta Bà, biết được sự việc ấy liền cùng với các chúng Thiên Tử ở Sắc Giới đến hộ vệ phía bên phải Đức Phật, Thiên chủ Đế Thích biết việc ấy, cũng với các chúng Thiên Tử ở Dục Giới đến hộ vệ phía bên trái Đức Phật để cùng đi.

Lại có năm trăm Càn Thát Bà Vương như Thiện Ái Âm… tấu lên trăm ngàn loại âm nhạc đi trước Đức Phật để dẫn đường.

Còn có vô số trăm ngàn Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Nhân, Phi Nhân… tùy tùng theo sau Đức Phật.

Lại có vô số thiên nữ trên hư không, đều cầm các thứ hoa như hoa Ưu Bát La, hoa Bát Nạp Ma, hoa Câu Mẫu Na, hoa Bôn Nô Lợi Ca, hoa Trời Mạn Đà La, hoa Ma Ha Mạn Đà La… rồi mưa xuống nào là hương chiên đàn, hương bột, hương Nhị Nga Lỗ, hương Đa Nga Lỗ, hương Đa Ma La… các loại diệu hương như thế để cúng dường Đức Phật. Họ lại tấu âm nhạc vi diệu Cõi Trời. Đại thể có chúng Trời, Người đông đảo như vậy vây quanh Đức Phật đi tới.

Bấy giờ, nơi đồng trống rộng lớn bên đường đi, có bảy ngàn Tiên Nhân trước đây đã ở đó. Trông thấy Đức Thế Tôn có đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang tròn tỏa chiếu sang rực như ngàn mặt trời, rộng lớn uy nghi như núi báu hiện, tướng mạo thù thắng tốt đẹp không ai sánh bằng.

Toàn thân Ngài lại có ánh sang màu vàng ròng vi diệu, rực rỡ, thấy như vậy rồi, họ cùng nhau đến gần trước Đức Phật, đầu mặt lạy nơi chân Phật, chắp tay cung kính đứng qua một bên. Những Tiên Nhân này nhờ thiện căn kiếp trước, nên được gặp Đức Phật Thế Tôn đầu tiên.

Bấy giờ Đức Thế Tôn quán sát bảy ngàn vị Tiên Nhân ấy, nhận thấy họ thiện căn đã thành thục, nên ngay giữa đồng trống, Ngài tùy cơ lược giảng về pháp môn Tứ Đế. Khi các Tiên Nhân nghe được pháp này, trí tuệ thêm kiên cố, tâm ý mở thông, mọi người đều hoan hỷ, tức thì vọt thân lên hư không cao hai mươi ngọn núi, cùng chứng quả Tu Đà Hoàn, rồi từ hư không hạ xuống vây quanh Thế Tôn, tùy tùng đi theo Ngài.

Sau khi độ cho bảy ngàn vị Tiên Nhân, Đức Thế Tôn từ từ đi đến cửa thành Phước Tăng.

Ngài tự nghĩ: thành Phước Tăng này có mười tám cửa, nếu ta theo cửa Tây vào thì tất cả dân chúng ở các cửa khác không thấy được ta, vậy ta nên hiện thân Phật ở khắp các cửa kia, theo các cửa ấy đi vào khiến cho tất cả dân chúng đều được thấy thân Phật, còn chính ta thì đi vào bằng cửa Tây.

Đức Thế Tôn nghĩ thế rồi, liền hiện ra nhiều thân tùy theo các cửa đi vào. Mỗi thân đều có đủ Trời người, đại chúng vây quanh tùy tùng. Khi Đức Phật đi vào cửa thành, nhờ sức thần thông, trong thành tự nhiên trừ sạch mọi thứ gai gốc, đá sỏi, ngói gạch.

Tất cả vật bất tịnh đều trở nên thanh tịnh, trong ngoài thơm sạch, mặt đấtt bằng như bàn tay không còn hình tướng cao thấp. Tại các cửa thành nơi Đức Phật đi qua, chỗ thấp nhỏ tự nhiên cao lớn, chỗ chật hẹp tự nhiên rộng rãi. Tất cả các loại voi ngựa trong thành có tánh nết hung dữ không thuần thục thì tự nhiên trở nên thuần thục.

Lại nữa, tất cả dân chúng trong thành đều hoan hỷ chiêm ngưỡng Thế Tôn. Nhờ vào sức thần thông của Đức Phật, người mù được thấy, người điếc được nghe, người câm được nói, cho đến những người thân thể bị khuyết tật đều trở nên toàn vẹn. Những người tâm hồn bị hôn mê, say loạn, điên cuồng đều được tỉnh ngộ, chánh định không loạn tưởng.

Người bị trúng độc đều được giải hết độc. Những người thù hận nhau cũng thay đổi thái độ, đối với nhau bằng tâm từ bi. Những người có thai, thân thể an ổn, sinh con phước đức. Những người nghèo khổ tự nhiên được tài sản quý báu sung túc.

Khi Đức Phật đi vào thành đã có những việc hy hữu như vậy diễn ra, tất cả dân chúng đều được lợi ích, chân thân Đức Phật thì đi vào cửa phía Tây.

Đức Thế Tôn đi vào thành xong, liền thu nhiếp các hóa than thành một thân duy nhất, rồi đến nhà trưởng giả Mô Thi La.

Đồng nữ Thiện Vô Độc thưa với trưởng giả:

Vị đang đến đây là Đại Sư của con, hiệu Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Giác.

Khi thấy Đức Phật với thần thông uy đức và các tướng hảo như vậy, trưởng giả và quyến thuộc đều sinh tâm kính ngưỡng, đầu mặt lạy sát hai chân Phật.

Đồng nữ Thiện Vô Độc được gặp Đức Phật, Thế Tôn thì vui mừng hớn hở, đầu mặt lạy sát chân Phật, chắp tay hướng về Ngài nói kệ:

Lời Đức Phật thuyết thật tối thượng

Điều phục được những lời người khác

Người nghe thường sinh tâm thanh tịnh

Con chưa gặp Phật rất khổ não

Đức Phật thương xót nên đến đây,

Hôm nay chúng con được lợi lớn

Con đem tâm thanh tịnh chí thành

Đảnh lễ chân an lành của Phật.

Đồng nữ nói kệ xong liền dâng nước thơm bằng Ngưu đầu chiên đàn để Đức Phật rửa chân. Rửa chân xong, Đức Phật an tọa trên bảo tòa trang nghiêm tối thượng. Các chúng Bí Sô cũng rửa chân và ngồi theo thứ tự.

Bấy giờ đồng nữ Thiện Vô Độc bưng thức ăn thanh tịnh thượng vị, tự tay dâng lên cúng dường Đức Phật và chúng Bí Sô. trưởng giả Mô Thi La cùng quyến thuộc, tự tay dâng thức ăn lên Đức Phật và chúng Bí Sô. Theo thứ tự như vậy, thức ăn được dâng lên tất cả, Đức Phật và các Bí Sô tùy ý thọ trai.

Khi ấy tất cả Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ trong thành Phước Tăng và các ngoại đạo Ni Kiền Tử, vô số trăm ngàn người cùng đến nhà trưởng giả ấy để được nhìn thấy Thế Tôn. Theo ý họ, nhà của trưởng giả đang ở quá chật hẹp, không thể dung chứa hết số người đông đảo như vậy, nên họ đều nghi ngại.

Đức Thế Tôn biết ý ấy, liền biến hóa nhà của trưởng giả trở thành thủy tinh, trong ngoài đều trong suốt, rộng rãi, nghiêm tịnh, khiến mọi người đều nhìn rõ Đức Phật không bị trở ngại.

Những người ấy được thấy Đức Phật rồi, liền khác miệng cùng lời nói kệ:

Hiện nay nhà trưởng giả

Đều trở thành thủy tinh

Ma ni và chân kim

Các báu đều rực sáng

Thanh tịnh và rộng rãi

Như cung Trời Đế Thích

Đều được thấy Thế Tôn

Đây rất là hy hữu

Hết tất cả chúng con

Trước Đức Phật chiêm ngưỡng

Đều sinh tâm thanh tịnh

Cung kính chắp tay lạy

Mâu Ni giữa chúng hội

Như trăng hiện giữa sao

Trang nghiêm bằng công đức

Thế nên con quy mạng.

Lúc Đức Thế Tôn thọ trai xong, các Bí Sô cũng vậy, Ngài không rời khỏi tòa. Có vô số trăm ngàn chúng Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân, Phi Nhân… cùng các Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ, ngoại đạo Ni Càn Đà, cho đến đồng nữ Thiện Vô Độc và quyến thuộc, vợ con trưởng giả Mô Thi La, đông đảo như vậy cùng tập trung chung quanh Đức Phật để nghe thuyết pháp.

Bấy giờ Đức Thế Tôn vì đại chúng, tùy theo căn cơ diễn nói về pháp môn Tứ Đế: Khổ, tập, diệt, đạo.

Khi Đức Phật giảng pháp môn này, trong đám ngoại đạo có người nhờ thiện căn thành thục, nên nghe pháp hoan hỷ, sinh tâm tin tưởng thanh tịnh quy y Thế Tôn, tùy theo nhận thức của mình, đều được lợi ích. Lại có chúng sinh được trụ ở noãn vị, có người được trụ ở đảnh vị, có người được trụ ở nhẫn vị, có người đắc quả Tư Đà Hàm, có người đắc quả A Na Hàm, có người đắc quả A La Hán.

Trưởng giả Mô Thi La nghe Phật thuyết pháp, phát tâm thanh tịnh, theo sự nhận thức của mình cũng được lợi ích. Đồng nữ Thiện Vô Độc nhờ thiện căn kiếp trước và được nghe thuyết pháp nên đắc quả Tu Đà Hoàn.

Khi đó các Bí Sô đều bạch Phật: Thưa Thế Tôn, lành thay! Hy hữu thay! Đồng nữ Thiện Vô Độc này đúng là thiện tri thức. Do người nữ ấy mà nhiều người đạt được lợi ích. Cô ấy đã có thể thi hành được các Phật sự lớn.

Đức Phật dạy: Này các Bí Sô, các ông nên biết, đồng nữ Thiện Vô Độc này chẳng phải chỉ hiện nay trong giáo pháp của ta là thiện tri thức thực hiện Phật sự, mà vị ấy đã ở trong Phật Pháp đời quá khứ là thiện tri thức từng hướng dẫn người khác thi hành Phật sự. Các ông hãy lắng nghe, ta sẽ nói lược qua về việc đó.

Các Bí Sô vâng lời Phật, lắng nghe.

Đức Phật dạy: Này các Bí Sô, trong đời quá khứ, khi loài người sống thọ tới hai vạn tuổi, có Đức Phật ra đời hiệu là Ca Diếp Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Một lúc nọ, Đức Phật du hóa ở vườn Lộc Dã, chốn Tiên Nhân đọa xứ, nước Ba La Nại, cùng với chúng Bí Sô. Nước ấy có Vua tên Ai Mẫn, Nhà Vua đầy đủ phước đức lớn, dùng chánh pháp trị dân.

Vua có một người con gái khi sinh ra tự nhiên trên đỉnh đầu có mái tóc vàng kim dài mượt, vì vậy đặt tên cô ta là Kim Man tóc vang dài mượt. Nhà Vua rất yêu mến vị công chúa này, ra lệnh cho hậu phi, cung tần, quyến thuộc phải hết sức nuôi dưỡng, hầu hạ cho đến khi trưởng thành. Công chúa nhờ sức thiện căn từ kiếp trước, nên rất mến chuộng Phật Pháp.

Cô ta nghe Đức Phật hiện ở trong vườn Lộc dã, liền cùng với năm trăm phi tần, quyến thuộc hộ vệ đi đến vườn ấy để chiêm ngưỡng làm lễ Đức Thế Tôn. Đến nơi, công chúa chí thành đầu mặt lạy sát chân Thế Tôn. Đức Phật tùy theo căn cơ mà giảng giải pháp yếu.

Công chúa nghe pháp rồi, sinh tâm tin tưởng thanh tịnh, hướng về Đức Phật bạch: Con từ hôm nay cho đến trọn đời, xin luôn dâng cúng các thứ ẩm thực, y phục, ngọa cụ, y dược lên Thế Tôn. Công chúa thưa bày như thế xong, luôn làm đúng như lời, thường đem tứ sự cúng dường Thế Tôn.

Bấy giờ Vua Ai Mẫn, vào một đêm nọ thấy mười điềm mộng:

Mộng thấy con voi lớn từ song cửa sổ đi ra, lọt được thân nhưng đuôi còn kẹt nơi song cửa.

Mộng thấy một người khát nước nhưng quay lưng lại giếng nước, người này thà chịu khát chứ không lấy nước uống.

Mộng thấy một người đem ngọc quý của mình đổi lấy lương khô.

Mộng thấy có người dùng gỗ thơm chiên đàn đổi lấy gỗ thường.

Mộng thấy có một vườn cây hoa trái sum suê, bỗng bị bão lớn thổi tới làm rụng hư nát.

Mộng thấy có các con voi nhỏ rượt đuổi voi lớn chạy đi nơi khác.

Mộng thấy có một con khỉ lớn thân thể dính phẩn dơ, chạy lung tung bốn phía làm bẩn các con khỉ khác, khiến chúng đều xa lánh.

Mộng thấy có một con khỉ ngồi trên tòa, các khỉ khác đều làm lễ quán đỉnh.

Mộng thấy một tấm vải trắng, có mười tám người đều giành một phần nhỏ về mình mà tấm vải không rách.

Mộng thấy có nhiều người tụ tập lại một chỗ cùng nhau tranh cãi lý luận về thị phi.

Đấy là mười giấc mộng Nhà Vua đã thấy.

Sau khi thức dậy, Nhà Vua suy nghĩ: ta thấy mười giấc mộng này nếu không là điềm lành thì chẳng phải là có hại đến mạng sống của ta hay sao?

Nghĩ như vậy, đến sáng sớm, Nhà Vua triệu tập quần thần để bàn về giấc mộng kia. Quần thần không thể xác định sự lành hay dữ của nó. Nhà Vua cho triệu một vị Bà La Môn đến và kể lại đủ mười giấc mộng, bảo vị này xét đoán sự việc lành dữ.

Vị Bà La Môn tâu: Đại Vương nên biết, điềm mộng này không lành, xin Nhà Vua cho làm phép để phá tan sự chẳng lành ấy.

Nhà Vua hỏi: Phép của khanh thế nào?

Bà La Môn tâu: Nhà Vua rất yêu mến công chúa Kim Man, tất cả dân chúng cũng quý trọng yêu mến công chúa, ngay lúc này xin Nhà Vua đem con gái yêu dấu ra phá hủy thân thể cho chảy máu để làm song suối, mổ bụng lấy ruột nối lại làm ấp xóm làng. Nếu làm phép này thì phá tan được sự chẳng lành kia. Nếu không làm như vậy thì mạng sống Nhà Vua bị tổn giảm.

Nhà Vua nói: ta thà chịu chết, không thể nào làm hại tính mạng của công chúa Kim Man.

Nói rõ như vậy xong, Nhà Vua hồi cung, im lặng chống tay lên gò má, không vui.

Công chúa Kim Man thấy Vua ngồi im lặng, có dáng ưu sầu, bèn đến trước Nhà Vua tâu: Phụ Vương, vì sao có dáng điệu ưu sầu, suy nghĩ về việc gì, xin phụ vương cho con biết.

Nhà Vua kể lại cho Kim Man nghe về mười điềm mộng và lời đoán của vị Bà La Môn.

Công chúa nghe xong, tâu Vua: Trong vườn Lộc dã cách đây không xa, có Đức Ca Diếp Như Lai Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, cùng chúng Bí Sô đang tập họp. Phụ vương cùng con nên đến đó, đem giấc mộng hỏi Phật. Đức Phật là Bậc Nhất Thiết Trí, chắc chắn có thể nói cho phụ vương rõ về sự việc thiện ác.

Vua Ai Mẫn theo lời con, cùng công chúa Kim Man và quần thần tùy tùng, đến vườn Lộc Dã, chỗ Đức Phật Thế Tôn. Đến nơi, Vua đầu mặt lạy sát chân Đức Thế Tôn rồi ngồi qua một bên. Công chúa Kim Man cùng quần thần tùy tùng cũng đều làm lễ và ngồi qua một bên.

Lúc ấy có các Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ tại pháp hội. Đức Phật vì Vua Ai Mẫn và chúng hội, tùy nghi thuyết pháp giảng dạy, làm cho họ đều hoan hỷ. Sau đó, Đức Phật im lặng. Vua Ai Mẫn liền rời chỗ ngồi, đến đứng trước Phật, đem mười giấc mộng lần lượt kể ra.

Sau khi kể, Vua thưa: Con vì sự việc này, sợ mạng sống bị tổn thất, ngưỡng mong Đức Phật từ bi vì con dạy bảo.

Đức Phật dạy: Này Đại Vương, đừng sợ! Đừng sợ! Giấc mộng đó không phải là việc của Vua, cũng không phải là sự việc thiện ác trong hiện nay, thọ mạng của Vua cũng không hề bị mất mát. Đại Vương nên biết, trong đời tương lai này, khi loài người sống còn một trăm tuổi, sẽ có Đức Phật ra đời hiệu Thích Ca Mâu Ni đầy đủ mười tôn hiệu.

Đức Phật ấy trụ thế diễn thuyết giáo pháp hóa độ chúng sinh, theo sự ứng hóa của Ngài. Sau khi làm Phật sự, Ngài nhập Niết Bàn. Giáo pháp để lại có các Bí Sô đệ tử thi hành các sự việc. Giấc mộng hiện nay của Vua là hình tướng báo trước về sự việc ấy.

Nay ta vì Vua lần lượt giảng giải: Như giấc mộng Vua thấy một con voi lớn theo song cửa sổ đi ra, thân hình tuy lọt nhưng đuôi còn dính lại nơi song, đó là sau khi Đức Phật kia nhập Niết Bàn, trong giáo pháp để lại có nam nữ Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ từ bỏ quyến thuộc, xuất gia học đạo. Tuy đã xuất gia, tâm vẫn còn tham đắm danh lợi thế tục, không thể giải thoát.

Như Vua mộng thấy có người khát nước nhưng quay lưng lại giếng, người này thà chịu khát chứ không múc nước uống, đó là giáo pháp của Đức Phật kia để lại có các Bí Sô đã vì các Bà La Môn, trưởng giả, Cư Sĩ thuyết giảng Kinh Điển của Phật, nhưng những Bà La Môn… ấy tâm biếng nhác nên đã bỏ qua, không ưa nghe và ghi nhận.

Như Nhà Vua mộng thấy đem ngọc thật đổi lấy lương khô, đó là trong giáo pháp của Đức Phật kia để lại, có các đệ tử Bí Sô không chịu y theo Kinh Điển chính thống để tu tập như năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám chánh đạo, thiền định, các pháp xuất thế gian, lại ưa thích tu tập theo kinh sách, chú thuật, ca vịnh, kệ tụng của thế gian.

***