Kinh Đại thừa

Phật Thuyết Kinh Niệm Tụng được Lược Ra Trong Kim Cương đỉnh Du Già

PHẬT THUYẾT KINH

NIỆM TỤNG ĐƯỢC LƯỢC RA

TRONG KIM CƯƠNG ĐỈNH DU GIÀ

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Kim Cương Trí, Đời Đường
 

PHẦN MƯỜI BỐN
 

Tiếp nói Khế của nhóm Kim Cương Tát Đỏa. Kết Kim Cương Phộc Khế xong, tưởng hai lòng bàn tay làm vành trăng, hợp duỗi hai độ Nhẫn Nguyện hai ngón giữa, dựng độ Đàn Tuệ hai ngón út trí định hai ngón cái nhưng chẳng hợp dính làm hình Ngũ Cổ Kim Cương. Đây gọi là Tát Đoả Kim Cương Khế.

Mật Ngữ là:

Án, tam ma gia, tát đoả.

OṂ SAMAYAS TVAṂ.

Như Bản Phộc Khế xong, co độ tiến lực hai ngón trỏ làm móc câu, đầu ngón cách nhau khoảng hai, ba phân. Đây gọi là Bất Không Vương Ma Ha Tát Đoả Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, a na gia, tát đoả.

OṂ ĀNAYA STVAṂ.

Như Bản Phộc Khế xong, co phần giữa của độ tiến lực hai ngón trỏ nằm ngang cùng giao nhau. Đây gọi là Ma La Ma Ha Bồ Đề Tát Đoả Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, a hồ, tô khư.

OṂ AHOḤ SUKHA.

Như Bản Phộc Khế, đem độ trí định hai ngón út vịn độ tiến lực hai ngón trỏ đều búng tay làm Thiện Tai. Đây gọi là Kim Cương Dõng Dược Tát Đoả Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, sa độ, sa độ.

OṂ SĀDHU SĀDHU.

Như Bản Phộc, dựng độ trí định hai ngón út đè nhau, co độ tiến lực hai ngón trỏ sao cho mặt ngón cùng trụ nhau. Đây gọi là Kim Cương Tạng Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, tô Ma Ha, đát phộc.

OṂ SUMAHĀ STVAṂ.

Như Bản Phộc, giương nhóm Đàn ngón út phải, giới ngón vô danh phải, nhẫn ngón giữa phải tuệ ngón út trái, phương tiện ngón vô danh trái, nguyện ngón giữa trái mở lòng bàn tay.

Đây gọi là Kim Cương Quang Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, lô bố ô nễ du đa.

OṂ RŪPA UDYOTA.

Như Bản Phộc, đem nhóm độ Đàn ngón út phải, giới ngón vô danh phải, tuệ ngón út trái, phương tiện ngón vô danh trái dựng hợp. Đây gọi là Kim Cương Biểu Sát Cũng gọi là Kim Cương Phù Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, át lợi tha, bát lạp để.

OṂ ARTHA PRĀPTI.

Liền dùng Khế bên trên, để ở tiếu xứ chỗ lúm đồng tiền hai gò má, nghiêng bàn tay mở ra, nâng lên rồi bung tán. Đây gọi là Kim Cương Khả Ấi Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, ha ha ha ha, hồng, ha.

OṂ HA HA HA HŪṂ HAḤ.

Như Bản Phộc, dựng độ trí định hai ngón cái, co độ tiến lực hai ngón trỏ cùng trụ đầu ngón. Đây gọi là Kim Cương Nhãn Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, tát bà ca lý.

OṂ SARVA KĀRI.

Như Bản Phộc, duỗi độ nhẫn nguyện hai ngón giữa co phần đầu ngón cùng trụ nhau như tướng cây đao. Đây gọi là Kim Cương Kiếm Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, nỗ khư, xế na.

OṂ DUḤKHA CCHEDA.

Như Bản Phộc, hợp dựng độ giới phương tiện hai ngón vô danh, độ đàn tuệ hai ngón út giao nhau. Đây gọi là Kim Cương Luân Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, bột đà, bồ địa.

OṂ BUDDHA BODHI.

Như Bản Phộc, mở giương độ trí định hai ngón cái từ miệng hước ra ngoài duỗi nâng. Đây gọi là Kim Cương Ngữ Ngôn Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, bát la để nhiếp bột đà.

OṂ PRATIŚABDA.

Như Bản Phộc, đem độ trí định hai ngón cái đè độ Đàn Tuệ hai ngón út, làm Bạt Chiết La. Đây gọi là Tỳ Thủ Yết Ma Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, tô bà thí, đá phộc.

OṂ SUVAŚI TVAṂ.

Như Bản Phộc, dựng độ tiến lực hai ngón trỏ để ở trên trái tim. Đây gọi là Dũng Mãnh Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, nỉ bà gia, đá phộc.

OṂ NIRBHĀYA TVAṂ.

Như Bản Phộc, co độ tiến lực hai ngón trỏ, mở độ Đàn Tuệ hai ngón út làm răng nanh. Đây gọi là Kim Cương Dạ Xoa Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, xả đốt lỗ, bà khất sa.

OṂ ŚATRŪ BHAKṢA.

Như Bản Phộc, đem độ trí định hai ngón cái đè khoảng gốc của độ Đàn Tuệ hai ngón út, co độ tiến lực hai ngón trỏ để ở trên lưng độ trí định hai ngón cái. Đây gọi là Kim Cương Quyền Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, tát bà tất địa.

OṂ SARVA SIDDHI.

Như Bản Phộc, để ngang trái tim xong, dựng độ trí định hai ngón cái. Đây gọi là Kim Cương Ái tức Hy Hý Kỹ Mật Cúng Dường Thiên Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, Ma Ha la để.

OṂ MAHĀ RATI.

Như Bản Phộc, duỗi dài hai cánh tay. Đây gọi là Kim Cương Man Thiên Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, lỗ bả, thú tỳ.

OṂ RŪPA ŚOBHE.

Tác Kim Cương Hợp Chưởng Khế, từ miệng dẫn ra, hướng xuống dưới duỗi cánh tay. Đây gọi là Kim Cương Ca Vịnh Thiên Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, thuấn lỗ đát la, tảo khê.

OṂ ŚOTRA SAUKHYE.

Liền mở Khế lúc trước, cùng quấn quanh như thế múa xong, chắp tay để ở trên đỉnh đầu. Đây gọi là Kim Cương Vũ Cúng Dường Thiên Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, tát bà bố thệ.

OṂ SARVA PŪJE.

Như Bản Phộc, úp lòng bàn tay của hai vũ hai tay hạ xuống đè. Đây gọi là Thiêu Hương Cúng Dường Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, bát la hạt la nễ ninh.

OṂ PRAHLA DINI.

Như Bản Phộc, ngửa hai lòng bàn tay, nâng lên cao. Đây gọi là Hoa Cúng Dường Thiên Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

Án, phát la già minh.

OṂ PHĀLA GAMI.

Như Bản Phộc Khế, dựng độ trí định hai ngón cái. Đây gọi là Đăng Cúng Dường Thiên Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

OṂ SUTEJA AGRI.

Như Bản Phộc, mở lòng bàn tay xoa trước ngực xong, đều chia hướng ra bên ngoài. Đây gọi là Đồ Hương Cúng Dường Thiên Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

OṂ SUGANDHA AṄGI.

Như Bản Phộc, cong độ tiến lực hai ngón trỏ làm móc câu. Đây gọi là Kim Cương Câu Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

OṂ ĀYAHI JAḤ.

Như Bản Phộc, đặt ngang độ định ngón cái phải xong, đem độ trí ngón cái trái đè lên sao cho đầu ngón nhập vào bên trong lòng bàn tay.

Đây gọi là Kim Cương Quyến Sách Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

OṂ ĀHI HŪṂ HŪṂ.

Như Bản Phộc, đem độ Đàn ngón út phải định ngón cái phải với độ tuệ ngón út trái trí ngón cái trái cùng móc xuyên nhau. Đây gọi là Kim Cương Liên Tỏa Bồ Đề Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là:

OṂ HE SPHOṬA VAṂ.

Như Bản Phộc, đem độ trí định hai ngón cái kèm vào bên trong lòng bàn tay. Đây gọi là Kim Cương Triệu Nhập Bồ Tát Tam Ma Gia Khế.

Mật Ngữ là: OṂ GHAṂṬA AḤ AḤ.

Tiếp nói công đức của các Tam Ma Gia Khế như trên.

Do Phật Tuỳ Niệm Khế cho nên hay mau chứng Bồ Đề.

Do Tát Đoả Kim Cương Khế cho nên hay làm Tôn Chủ của tất cả Khế.

Do Bảo Kim Cương Khế cho nên được tất cả Bảo Chủ.

Do Pháp Kim Cương Khế cho nên được Pháp Tạng của Phật.

Do Yết Ma Kim Cương Khế cho nên hay làm tất cả sự nghiệp.

Do Tát Đoả Khế cho nên được thành thân của Kim Cương Tát Đoả.

Do Kim Cương Câu Khế cho nên hay triệu các Chấp Kim Cương.

Do Kim Cương Ái Nhiễm Khế cho nên hay vui thích tất cả Phật Pháp.

Do Kim Cương Thiện Tai Khế cho nên hay khiến Chư Phật vui vẻ.

Do Bảo Khế cho nên được địa vị Quán Đỉnh của Phật.

Do Kim Cương Uy Quang Khế cho nên được uy quang của Kim Cương.

Do Kim Cương Tràng Khế cho nên hay ban bố mãn tất cả Nguyện.

Do Kim Cương Tiếu Khế cho nên hay cùng cười chung với tất cả Phật.

Do Kim Cương Pháp Khế cho nên hay cầm giữ pháp của Kim Cương.

Do Kim Cương Lợi Kiếm Khế cho nên được tuệ tối thượng của Phật.

Do Kim Cương Luân Khế cho nên hay chuyển bánh xe diệu pháp.

Do Kim Cương Ngữ Ngôn Khế cho nên được Ngữ Ngôn Tất Địa của Phật.

Do Kim Cương Yết Ma Khế cho nên mau được thành tựu tối thượng.

Do Kim Cương Khải Khế cho nên được làm thân Kim Cương.

Do Kim Cương Dạ Xoa Khế cho nên được đồng với Kim Cương Dạ Xoa.

Do Kim Cương Quyền Khế cho nên được thành tựu tất cả Khế.

Do Kim Cương Hy Hý Kỹ Khế cho nên được đại thiện lạc.

Do Kim Cương Ma Khế cho nên được nhận Quán Đỉnh của Phật.

Do Kim Cương Ca Vịnh Khế cho nên được pháp tán vịnh của Phật.

Do Kim Cương Vũ Khế cho nên được Phật nhiếp hộ ban ân dùng cúng dường.

Do Kim Cương Thiêu Hương Khế cho nên hay làm cho Thế Giới tươi tốt tinh khiết.

Do Kim Cương Hoa Khế cho nên được khiến thế gian tuỳ thuận.

Do Kim Cương Quang Minh Khế cho nên được năm loại mắt của Phật.

Do Kim Cương Đồ Hương Khế cho nên hay trừ tất cả khổ ách.

Do Kim Cương Đô Ấn Chủ Khế cho nên hay nhiếp triệu tất cả.

Do Kim Cương Quyến Sách Khế cho nên hay dẫn vào tất cả.

Do Kim Cương Toả Khế cho nên hay cai quản cột trói tất cả.

Do Kim Cương Triệu Nhập Khế cho nên hay thành tựu nhiếp vào tất cả.

Tiếp, dùng mười sáu Đại Cúng Dường Khế Mahā pūjā mudrā nên cúng dường tất cả Như Lai.

***