Kinh Đại thừa

Bộ Đại Tập

PHẬT THUYẾT

KINH TƯỢNG ĐẦU TINH XÁ

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Đời Tùy
 

Đúng thật như thế, chính tôi được nghe!

Một thời, Đức Bà Già Bà ngụ tại Tinh Xá Tượng Đầu, thành Già Da. Bấy giờ, Như Lai thành Phật chưa lâu, Ngài cùng với một nghìn đại Tỳ Kheo và vô số chúng Đại Bồ Tát nhóm họp.

Các đại Tỳ Kheo này là những người xưa kia đã từng theo Tiên Nhân Loa Kế tu tập, các vị ấy đều là bậc A La Hán, việc làm đã xong, buông bỏ gánh nặng, thoát khỏi sinh tử, sạch các phiền não, đạt được không tuệ bình đẳng, trí tâm chính định, hiểu biết mọi việc, đã đến bờ giác.

Lúc ấy Thế Tôn ngồi yên lặng tư duy, nhập các môn tam muội, quán sát khắp pháp giới, tự biết đã thành đạo, đầy đủ nhất thiết trí, các việc làm đã xong, buông bỏ mọi gánh nặng, vượt qua dòng sinh tử, không còn tham lam bỏn xẻn, nhổ gai ba độc, không còn khát ái, gom thuyền đại pháp, gióng trống đại pháp, thổi kèn đại pháp, dựng cờ đại pháp, đã đoạn sinh tử.

Ngài diễn thuyết chánh pháp: Đóng cửa các đường ác, mở cửa các đường thiện, lìa hẳn những cõi xấu, dạo nơi Cõi Tịnh.

Ta quán sát pháp này, ai là người tu tập bồ đề, ai là người chứng bồ đề và ai là người sắp chứng bồ đề?

Từ đời quá khứ, hiện tại cho đến vị lai, ai là người chứng đắc?

Là thân chứng đắc hay tâm chứng đắc?

Nếu dùng thân chứng thì thân này vô tri, giống như cỏ, cây, cát, đá, tường, vách không có sự hiểu biết!

Thân này do bốn đại hòa hợp, được cha mẹ sinh ra, luôn cần ăn uống, quần áo, tắm rửa, xoa bóp, nhưng cuối cùng rồi cũng hư hoại, là pháp không bền chắc.

Còn bồ đề kia, chỉ có tên rỗng và không có tướng thật, không thanh, không sắc, không thành tựu, không thể thấy, không thể vào, không thể biết, không đi, không đến, v.v… và các pháp này cũng không thể ràng buộc nó.

Bồ đề có khả năng vượt qua các pháp, vượt ngoài Tam Giới. Không thể thấy, không thể nghe, không có ngã và ngã sở, không người tạo tác, không có xứ sở, không có hang động, không nắm giữ, không dính mắc, không ra, không vào, không mong cầu, không trụ, không tướng, không mạo, không đây, không kia, không thể chỉ bày, giống như huyễn hóa, chỉ do mười hai nhân duyên sinh, không nơi chốn, không thể thấy, lìa tướng, như hư không hiện, vắng lặng, không âm thanh, không tiếng vang, không văn tự, cũng không nói năng.

Nếu biết như thế, gọi là bồ đề. Nếu dùng tâm chứng đắc, thì tâm này không cố định, như huyễn hóa, đều do nghiệp vọng tưởng quá khứ mà sinh, không hình tướng, không thể nắm bắt, giống như hư không.

Bồ đề không có nơi chốn. Chẳng thuộc quá khứ, hiện tại, vị lai. Không có tất cả pháp. Tuy vẫn nói năng nhưng có danh mà không thật. Đó là pháp vô vi, là không, vô tướng, vô tác, chẳng có, chẳng không, chẳng thể chỉ bày, không thể nói, không thể nghe.

Bồ đề chẳng phải từ quá khứ để được, chẳng phải từ vị lai để được, chẳng phải nơi hiện tại mà được, cũng không thể lìa ba đời mà có được.

Bồ đề không có tướng, chẳng tạo tác, cũng chẳng phải không tạo tác. Nếu có thể hiểu rõ pháp ba đời như thế, tức là bồ đề.

Khi ấy, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: Kính bạch Đức Thế Tôn! Nếu vô tướng là bồ đề, thì hiện tại các thiện nam và thiện nữ an trụ vào đâu để thành tựu bồ đề?

Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Các Bồ Tát học bồ đề nên an trụ như thế!

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi bạch Phật: Kính bạch Đức Thế Tôn! Các Bồ Tát nên an trụ như thế nào?

Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Bồ Đề vượt trên ba cõi, ngoài sự nói năng, lìa các văn tự, không có trụ xứ.

Lại nữa, này Văn Thù Sư Lợi! Đại Bồ Tát trụ mà không có chỗ trụ là trụ bồ đề.

Trụ mà không chấp trước là trụ bồ đề.

Trụ nơi pháp không là trụ bồ đề.

Trụ vào pháp tính là trụ bồ đề.

Trụ vào tất cả pháp không có thể tướng là trụ bồ đề.

Trụ vào niềm tin vô lượng là trụ bồ đề.

Trụ không tăng giảm là trụ bồ đề.

Trụ mà không có niệm khác là trụ bồ đề, trụ như bóng trong gương, như tiếng vang trong hang trống, như Trăng trong nước, như sóng nắng.

Này Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát trụ vào các pháp như thế là trụ bồ đề.

Khi ấy, Thiên Tử Tịnh Quang Diệm thưa với Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Thưa Bồ Tát! Tu tập như thế nào và những nghiệp gì là hạnh Bồ Tát?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi trả lời: Này Thiên Tử! Khởi tâm đại từ với chúng sinh là hạnh Bồ Tát.

Thiên Tử lại thưa: Thưa Bồ Tát! Các Bồ Tát tu tập như thế nào để khởi tâm đại từ?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đáp: Này Thiên Tử! Không có tâm nịnh bợ, lừa dối là tâm đại từ của Bồ Tát.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Tu tập như thế nào để không nịnh bợ, lừa dối?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Khởi tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, chính là không nịnh bợ, lừa dối!

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Các Đại Bồ Tát tu tập như thế nào để khởi tâm bình đẳng với tất cả chúng sinh?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Bồ Tát không khởi tâm phân biệt đây kia, không có các dị kiến là hạnh bình đẳng.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Các Đại Bồ Tát phải tu tập như thế nào để không có tâm phân biệt đây kia, không có các dị kiến và khởi tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Các Bồ Tát nên khéo léo nhớ nghĩ, cung kính, không phân biệt đây kia, không có các dị kiến, bình đẳng với các pháp.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Các Đại Bồ Tát tu tập nhờ vào đâu để khởi tâm khéo nhớ nghĩ, cung kính cho đến không có tâm phân biệt đây kia và các dị kiến?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Các Bồ Tát tu tập, do phát tâm bồ đề mà khéo léo nhớ nghĩ và cung kính.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Tâm bồ đề từ đâu mà phát khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ sáu Ba la mật mà phát khởi tâm bồ đề.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Sáu Ba la mật do đâu mà khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ trí tuệ phương tiện mà phát khởi sáu Ba la mật.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Trí tuệ phương tiện từ đâu mà phát khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ tâm không buông lung mà phát khởi trí tuệ phương tiện.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Tâm không buông lung từ đâu khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Do tu tập ba nghiệp thiện mà khởi.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Tu ba nghiệp thiện từ đâu phát khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ việc tu tập mười nghiệp thiện khởi.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Tu mười nghiệp thiện từ đâu phát khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ chỗ khéo léo nhiếp phục thân, miệng, ý mà phát khởi.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Lại từ đâu mà phát khởi ba nghiệp thiện này?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ sự thận trọng tư duy kĩ mà phát khởi.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Sự thận trọng tư duy kĩ này từ đâu phát khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ chỗ thận trọng suy xét kĩ quán hành mà phát khởi.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Thận trọng suy xét kĩ về quán hành từ đâu khởi?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Từ chỗ ghi nhớ thụ trì không quên mà phát khởi.

Thiên Tử: Thưa Bồ Tát! Có mấy loại tâm ghi nhớ thụ trì không quên?

Vì nhân duyên gì mà có các quả báo?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Đại Bồ Tát có bốn loại phát tâm từ nhân được quả:

Một, sơ phát tâm.

Hai, chuyên tâm tu tập.

Ba, không lui sụt.

Bốn, đồng sinh ra với các pháp thiện.

Nhờ sơ phát tâm mà được chuyên tâm, nhờ chuyên tâm tu tập mà không còn lui sụt, nhờ không lui sụt mà đồng sinh với các pháp thiện.

Lại nữa, này Thiên Tử! Người sơ phát tâm giống như hạt giống được gieo trên ruộng tốt. Chuyên tâm tu tập giống như mầm mới nứt. Tu tập không lui sụt giống như thân, gốc, cành, lá tăng trưởng. Đồng sinh với các pháp thiện giống như cây ra hoa kết trái rồi chín.

Người sơ phát tâm giống như người thợ đóng xe biết rõ về các loại gỗ.

Chuyên tâm tu tập giống như ráp các bộ phận bằng gỗ đó lại.

Tu tập không lui sụt giống như chiếc xe đã được hoàn thành.

Đồng sinh với các pháp thiện giống như công dụng chuyên chở của chiếc xe.

Người sơ phát tâm giống như mặt trăng ngày mồng một.

Chuyên tâm tu tập giống như mặt trăng ngày mồng năm cho đến ngày mồng bảy.

Tu tập không lui sụt giống như mặt trăng ngày mồng mười.

Đồng sinh với các pháp thiện giống như mặt trăng ngày mười bốn.

Trí tuệ Như Lai tròn đầy không khuyết giống như mặt trăng ngày rằm.

Lại nữa, này Thiên Tử! Người sơ phát tâm thì vượt qua giai vị Thanh Văn.

Phát tâm lần thứ hai vượt qua giai vị Bích Chi Phật.

Phát tâm lần thứ ba vượt qua Bất Định Địa.

Phát tâm lần thứ tư thì đạt đến Định Địa.

Giống như âm ác và a đều là căn bản của tất cả chữ. Người sơ phát tâm cũng thế, là căn bản của tất cả pháp thiện. Như người học chữ, được chút ít trí tuệ. Người chuyên tâm tu tập cũng vậy, có được chút ít trí tuệ.

Giống như những nhà toán học tính lượng số, biết rõ từng phân lượng. Người tâm không lui cũng vậy, biết tâm không còn lui sụt. Như người thông suốt các Kinh Luận, đồng sinh với các pháp thiện, tâm thiện rõ ràng sáng suốt cũng giống như thế.

Lại nữa, này Thiên Tử! Người phát tâm lần đầu chuyên nghĩ nhớ nhân thiện.

Phát tâm lần thứ hai chuyên nghĩ nhớ trí tuệ.

Phát tâm lần thứ ba chuyên nghĩ nhớ thiền định.

Phát tâm lần thứ tư chuyên nghĩ nhớ đến quả.

Người phát tâm lần đầu thụ trì nhân thiện.

Phát tâm lần thứ hai thụ trì trí tuệ.

Phát tâm lần thứ ba thụ trì thiền định.

Phát tâm lần thứ tư thụ trì quả.

Người phát tâm lần đầu thành tựu nhân thiện.

Phát tâm lần thứ hai thành tựu trí tuệ.

Phát tâm lần thứ ba thành tựu thiền định.

Phát tâm lần thứ tư thành tựu chính quả.

Người phát tâm lần đầu nhờ thiện để vào đạo.

Phát tâm lần thứ hai nhờ trí để vào đạo.

Phát tâm lần thứ ba nhờ thiền để vào đạo.

Phát tâm lần thứ tư nhờ quả để vào đạo.

Người phát tâm lần đầu như thầy thuốc biết các loại thuốc.

Phát tâm lần thứ hai như thầy thuốc biết phân lượng thuốc.

Phát tâm lần thứ ba như thầy thuốc tùy bệnh cho thuốc.

Phát tâm lần thứ tư như cho người bệnh uống thuốc.

Người phát tâm lần đầu sinh vào nhà Pháp Vương.

Phát tâm lần thứ hai, học pháp của Pháp Vương.

Phát tâm lần thứ ba, tu theo hạnh Pháp Vương.

Phát tâm lần thứ tư, hoàn thành giai vị Pháp Vương.

Trên đây là bốn loại phát tâm.

Bấy giờ, Thiên Tử Tịnh Quang Diệm lại thưa: Thưa Bồ Tát! Đại Bồ Tát tu tập pháp môn gì để mau chứng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này Thiên Tử! Có hai pháp môn giúp Đại Bồ Tát mau chứng quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam bồ đề:

Một, pháp môn phương tiện.

Hai, pháp môn bát nhã.

Vì thụ trì trí phương tiện có thể quán xét tất cả chúng sinh.

Thụ trì bát nhã có thể quán sát tất cả pháp không, trừ được nghi chấp.

Nhờ trí phương tiện nên hòa hợp các pháp.

Do bát nhã nên các pháp không hòa hợp.

Phương tiện là nhân, bát nhã là quả.

Do phương tiện mà biết tất cả pháp.

Nhờ bát nhã mà biết các pháp là không.

Dùng trí phương tiện trang nghiêm Cõi Phật.

Nhờ bát nhã mà biết các cõi Phật đều bình đẳng.

Do trí phương tiện nên biết căn tính của các chúng sinh có sai biệt.

Nhờ bát nhã, nên biết căn tính của các chúng sinh đều không.

Nhờ phương tiện mà được vị Cam Lồ, thành tựu bồ đề.

Nhờ bát nhã, nên biết pháp Chư Phật là chính đạo bình đẳng.

Lại nữa, này Thiên Tử! Có hai hạnh khiến Đại Bồ Tát mau chứng quả A Nậu Đa La Tam Miệu Tam bồ đề:

Một, hạnh hữu vi.

Hai, hạnh vô vi.

Hạnh hữu vi thì tóm thâu năm Ba la mật.

Hạnh vô vi tóm thâu bát nhã Ba la mật.

Lại có hai hạnh khiến Đại Bồ Tát mau chóng được bồ đề:

Một, hạnh hữu lậu.

Hai, hạnh vô lậu.

Hạnh hữu lậu là năm Ba la mật.

Hạnh vô lậu là bát nhã Ba la mật.

Lại có hai hạnh có thể khiến Đại Bồ Tát mau chóng được bồ đề:

Một, hạnh trụ.

Hai, Hạnh bất trụ.

Hạnh trụ là năm Ba la mật.

Hạnh bất trụ là bát nhã Ba la mật.

Lại có hai hạnh có thể khiến Đại Bồ Tát mau chóng được bồ đề:

Một, hạnh hữu lượng.

Hai, hạnh vô lượng.

Hạnh hữu lượng là năm Ba la mật.

Hạnh vô lượng là bát nhã Ba la mật.

Hạnh hữu lượng là pháp hữu tướng.

Hạnh vô lượng là pháp vô tướng.

Lại có hai hạnh có thể khiến Đại Bồ Tát mau chóng được bồ đề:

Một, trí hạnh.

Hai, định hạnh.

Từ Sơ Địa cho đến Thất Địa tu tập trí hạnh.

Từ Bát Địacho đến Thập Địa tu tập định hạnh.

Khi ấy, Bồ Tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì thưa: Thưa Bồ Tát! Đại Bồ Tát hiểu nghĩa và trí như thế nào?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Này thiện nam tử! Nghĩa vô thể, trí cũng vô thể.

Bồ Tát Bất Khiếp Nhược Trí Tổng Trì lại hỏi: Thưa Bồ Tát! Thế nào là nghĩa vô thể và trí cũng vô thể?

Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đáp: Này thiện nam tử! Nghĩa vô thể, nghĩa chính là vô vi, vô tác, không tướng, không mạo, không đến, không đi. Trí vô thể, trí tức không phải pháp định, cũng không phải pháp bất định. Nghĩa thì vô thể, chẳng có, chẳng không. Trí thì thể không, chẳng có, chẳng không. Không lấy, không bỏ.

Ông hãy thụ trì như thế! Lại nữa, nghĩa thì chẳng phải định, chẳng phải không định. Trí chính là tâm đạo, tâm và trí bình đẳng không sai biệt.

Lại nữa, trí lấy thiền làm thể. Thiền và trí bình đẳng không sai biệt. Dùng phương tiện quán ấm, nhập, giới, mười hai nhân duyên sinh tử lưu chuyển, tướng thiện ác giống như huyễn hóa, chẳng có, chẳng không.

Các Đại Bồ Tát nên quán các pháp như thế!

Lại nữa, này thiện nam tử! 

Đại Bồ Tát có mười trí hành:

Một, trí nhân.

Hai, trí quả.

Ba, trí nghĩa.

Bốn, trí phương tiện.

Năm, trí bát nhã.

Sáu, trí thụ trì.

Bảy, trí Ba la mật.

Tám, trí đại bi.

Chín, trí thương xót giáo hóa chúng sinh.

Mười, trí không chấp tất cả pháp.

Đại Bồ Tát nên phát khởi mười hạnh thanh tịnh:

Một, phát khởi thân nghiệp thanh tịnh của chính mình.

Hai, phát khởi thân nghiệp thanh tịnh của tất cả chúng sinh.

Ba, phát khởi khẩu nghiệp thanh tịnh của bản thân.

Bốn, phát khởi khẩu nghiệp thanh tịnh của tất cả chúng sinh.

Năm, phát khởi ý nghiệp thanh tịnh của bản thân.

Sáu, phát khởi ý nghiệp thanh tịnh của tất cả chúng sinh.

Bảy, phát khởi hạnh thanh tịnh bình đẳng cho tất cả chúng sinh.

Tám, phát khởi hạnh thanh tịnh bình đẳng ngoài tất cả chúng sinh.

Chín, phát khởi trí thanh tịnh của Chư Phật.

Mười, phát khởi hạnh nguyện làm thanh tịnh Quốc Độ Phật và giúp chúng sinh thành tựu Phật Đạo.

Nếu có chúng sinh bệnh tật, thì cung cấp thuốc men để họ được khỏe mạnh. Người nhiều phiền não, thì dùng trí vô vi mà giáo hóa họ, khiến họ ra khỏi ba cõi và đầy đủ tất cả công đức trí tuệ của đạo vô vi.

Đây gọi là Bồ Tát đầy đủ mười hạnh thanh tịnh.

Lại nữa, Đại Bồ Tát có mười phương tiện:

Một, phương tiện Ba la mật.

Hai, phương tiện thụ trì.

Ba, phương tiện trí tuệ.

Bốn, phương tiện phương tiện.

Năm, phương tiện đại bi.

Sáu, phương tiện đầy đủ trí.

Bảy, phương tiện đầy đủ tuệ.

Tám, phương tiện niệm an tĩnh.

Chín, phương tiện hạnh chân thật.

Mười, phương tiện bình đẳng không thương ghét tất cả chúng sinh.

Đại Bồ Tát lại có mười loại phân biệt vô tận nơi thân:

Một, phân biệt sự vật vô tận.

Hai, phân biệt phiền não vô tận.

Ba, phân biệt pháp vô tận.

Bốn, phân biệt khát ái vô tận.

Năm, phân biệt các kiến vô tận.

Sáu, phân biệt thiện ác vô tận.

Bảy, phân biệt sự tạo tác vô tận.

Tám, phân biệt tâm không chấp trước vô tận.

Chín, phân biệt hòa hợp vô tận.

Mười, phân biệt trí bồ đề viên mãn vô tận.

Đại Bồ Tát có mười hạnh điều phục:

Một, điều phục để tu thiện.

Hai, điều phục tâm bỏn xẻn, thực hành bố thí nhiều.

Ba, điều phục tâm không tinh tiến.

Bốn, điều phục ba nghiệp.

Năm, điều phục tâm ác độc, không còn sân giận.

Sáu, điều phục để phát khởi tâm từ mẫn.

Bảy, điều phục tâm lười biếng.

Tám, điều phục để siêng tu Pháp Phật.

Chín, điều phục tâm bất thiện, không làm các việc ác.

Mười, điều phục để được thiền định tự tại giải thoát.

Bồ Tát lại có mười hạnh điều phục khác:

Một, điều phục phá ngu si vô trí.

Hai, điều phục phương tiện tổng trì bát nhã Ba la mật.

Ba, điều phục phiền não.

Bốn, điều phục sinh khởi đạo.

Năm, điều phục tổng trì chân thật.

Sáu, điều phục để không rơi vào đường ác.

Bảy, điều phục tâm bất thiện.

Tám, điều phục sự tự tại đúng thời và không đúng thời.

Chín, điều phục tự thân.

Mười, điều phục quán không.

Lại nữa, này thiện nam tử! Đại Bồ Tát lại có mười hạnh điều phục khác.

Đó là, điều phục để xa lìa ba nghiệp ác của thân, bốn nghiệp ác của miệng và ba nghiệp ác của ý.

Đại Bồ Tát còn có mười pháp quán bên trong và bên ngoài mà không khởi chấp trước:

Một, quán trong thân đều là không, không khởi chấp trước.

Hai, quán ngoài thân cũng đều là không, không khởi chấp trước.

Ba, quán các pháp bên trong và bên ngoài thân đều là không, không chấp trước.

Bốn, không chấp trước tất cả trí.

Năm, không chấp trước tất cả pháp tu tập.

Sáu, quán các giai vị Hiền Thánh mà không chấp trước.

Bảy, tu tập lâu dài được thanh tịnh mà không chấp trước.

Tám, trụ vào bát nhã Ba la mật mà không chấp trước.

Chín, thuyết giảng Kinh Luận giáo hóa chúng sinh mà không chấp trước.

Mười, quán các chúng sinh, phát khởi phương tiện lớn, từ bi thương xót mà không chấp trước.

Này thiện nam tử! Đại Bồ Tát nên như thế mà giữ tâm kiên cố tu đạo bồ đề.

Nếu không có tâm bồ đề kiên cố như thế, thì không gọi là Bồ Tát.

Thế nào là kiên cố?

Đó là ba nghiệp thân, miệng, ý tương ưng, không trái ngược nhau.

Thế nào là không kiên cố?

Đó là ba nghiệp thân, miệng, ý không tương ưng và trái ngược nhau.

Đại Bồ Tát lại có hai hạnh chân chính, để giữ vững tâm bồ đề:

Một, chính niệm bồ đề.

Hai, tu tập thiền định đoạn các phiền não.

Lại nữa, này thiện nam tử! Đại Bồ Tát lại có hai hạnh chân chính kiên cố:

Một, điều thân mình.

Hai, điều thân chúng sinh.

Đại Bồ Tát lại có hai hạnh chân chính kiên cố:

Một, siêng năng tu tập, được nhất thiết trí.

Hai, không tu tập mà được nhất thiết trí.

Đại Bồ Tát lại có hai hạnh chân chính kiên cố:

Một, trụ giai vị phương tiện.

Hai, trụ giai vị bất động.

Đại Bồ Tát lại có hai hạnh chân chính kiên cố:

Một, xa lìa cõi nhiễm.

Hai, dùng phương tiện tự tu tập viên mãn từng giai vị.

Đại Bồ Tát lại có hai hạnh chân chính kiên cố:

Một, thị hiện giai vị Thanh Văn và Bích Chi Phật.

Hai, không lui sụt phương tiện đạt bồ đề Phật.

Này thiện nam tử! Đại Bồ Tát dùng vô lượng phương tiện chính hạnh kiên cố như thế để được A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề!

Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Hay thay, hay thay! Văn Thù Sư Lợi đã giảng nói những lời này!

Khi nghe Đức Phật thuyết pháp này, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi cùng vô lượng Người, Trời, A Tu La, Càn Thát Bà, … liền tin nhận, đỉnh lễ, hoan hỉ vâng theo.

***