Kinh Nguyên thủy

Phật Thuyết Kinh Uy Nghi Hình Sắc Của Pháp Hoa Mạn đà La

PHẬT THUYẾT KINH UY NGHI

HÌNH SẮC CỦA PHÁP HOA MẠN ĐÀ LA

Hán dịch: Ngài Tam Tạng Pháp Sư

Bất Không, Đời Đường
 

PHẦN BA
 

Cửa Đông, phía Nam: Thiên Đế Thích.

Mão báu nghiêm trên đỉnh

Đội giữ chày Tam Cổ

Diện Môn khuôn mặt màu vàng trắng

Tả Định tay trái kết Quyền Ấn

Hữu tuệ tay phải cầm Nhất Cổ chày Nhất Cổ

Trăm ngàn loại Anh Lạc

Cà Sa, áo Thiên Phi

Định trụ tòa Diệu Cao

Phía Bắc: Đại Phạm Thiên Vương

Bốn mặt, mão tóc búi

Diện Môn khuôn mặt màu thịt trắng

Mỗi mặt, tướng ba mắt

Bốn tay, tuệ tay phải cầm hoa

Tiếp huệ tay phải cầm tràng hạt

Định tay trái trên, cầm đạc trì

Định tay trái dưới, tay nghiêng chưởng lòng bàn tay

Co Phong ngón trỏ, dựng ngón khác

Thân đeo Anh Lạc đẹp

Áo khoác với Cà Sa

Sáng tròn ẩn thân báu

Nước giữ Thất Ngã Xa

Cửa Nam, phía Đông: Đại Tự Tại Thiên.

Mão Trời đẹp trên đỉnh

Diện Môn khuôn mặt hoa sen tía

Định tuệ hai tay cầm Mâu bén

Cởi con trâu đen lớn

Đeo Anh Lạc báu đẹp

Áo khoác với Phi Y áo bay phất phới

Nghiêm Thân làm Diệu Sắc

An trụ biển vành trăng nguyệt luân hải

Phía Tây: Nan Đà Long Vương

Rồng chín đầu trên đỉnh

Thân tướng màu thịt trắng

Tả định tay trái kết quyền ấn

Hữu tuệ tay phải cầm sợi dây

Tướng giận dữ giáng phục

Hoa sen dùng làm tòa.

Cửa Tây, phía Nam: Diệu Pháp Khẩn Na La Vương.

Mặt đầu nai, hươu, ngựa

Thân tướng màu thịt đỏ

Cầm nhạc khí âm thanh

Thân hiển tướng cởi trần

Phía Bắc: Nhạc Càn Thát Bà Vương

Trên đỉnh dùng mão sừng

Thân tướng màu thịt đỏ

Thân như Đại Ngưu Vương

Tả Định tay trái cầm tiêu, sáo

Hữu tuệ tay phải cầm đao báu

Đủ tướng Đại Uy Lực

Cửa Bắc, phía Đông: Như Ý Ca Lâu La Vương.

Ngọc Như Ý trên đỉnh

Đầu mỏ chim, hai cánh

Thân tướng màu đen xanh

Miệng thổi loa, thổi sáo

Phía Tây: La Hầu A Tu La Vương.

Mão tóc búi trên đỉnh

Thân tướng màu đen xanh

Hữu tay phải An Tu La Trí

Diện môn khuôn mặt tướng phẫn nộ

Tả Định tay trái nước Kim Cương

Phong ngón trỏ quấn bên trên không luân ngón cái

Phía Đông Bắc: Ô Sô Sa Ma.

Tóc búi quấn Tự Địa

Thân tướng màu xanh đậm

Kim Cương, Anh Lạc báu

Tướng rất ư phẫn nộ

Tả định tay trái cầm sợi dây

Tả lý tay trái tràng hạt báu

Hữu tuệ tay phải cầm Tam Xoa

Hữu Trí tay phải ấn mãn nguyện

Dùng tuệ tay phải co phương ngón vô danh nguyện ngón giữa

Dựng trí ngón cái lực ngón trỏ mớm thêm

Dùng da thú làm áo

Hữu bên phải có hai rắn đỏ

Cuộn khúc rũ ức ngực

Nép ở mặt Bản Tôn

Bốn tay, hai bắp bắp tay trắng

Có một rắn quấn quanh

Màu ấy thật trắng xanh

Trụ trên sen ao báu

Phía Đông Nam: Thánh Quân Trà Lợi.

Búi tóc, mão đầu lâu

Màu mây đen sấm sét

Tướng ba mắt đáng sợ

Tám tay nắm khí trượng

Tả định tay trái Quật Kim Luân

Tả lý tay trái cầm Chiến Tiêu

Tả định tay trái Kim Cương Câu

Hữu tuệ tay phải cầm Tam Đao

Hữu trí tay phải quyền đè hông

Trước kết Kim Cương Quyền

Dựng thẳng Luân Giới, Phong Ngón vô danh, ngón trỏ

Ngang bên dưới hông phải

Hữu tuệ tay phải thí vô úy

Định tuệ hai tay trái phải Ấn Đại Nguyện

Trước đem hữu tuệ oản cổ tay phải

Đè tả định oản cổ tay trái nằm

Đều nắm Kim Cương Quyền

Định tuệ hai Tay Luân Giới ngón vô danh phong ngón trỏ

Đều dựng đứng ngang ngực

Kim Cương, Anh Lạc báu

Tả bên trái tám tay, tám rắn

Quấn tám tay làm ngọc

Hai rắn quấn hai đùi

Hai rắn quấn hai tai

Da thú vương làm áo

Sen trắng nâng hai chân

Vòng hoa lửa uy nộ

Phía Đông Nam: Thánh Bất Động Tôn.

Sen tám cánh trên tóc

Tóc rũ xuống vai trái

Một mắt nhìn kỹ lưỡng

Diện Môn, tướng sóng nước

Nanh trắng rất phẫn nộ

Tả Định tay trái cầm sợi dây

Kim Cương, Anh Lạc báu

Tất cả báu nghiêm sức

Thân uy nộ rất mượt

Trụ bàn đá bảy báu

Phía Tây Bắc: Thánh Giáng Tam Thế.

Đầu lâu, mão tóc lớn

Màu mây mưa mùa hạ

Ba mặt chín con mắt mỗi mặt có ba con mắt

Ha Tra Tra mỉm cười

Tướng rất ư phẫn nộ

Tả định tay trái cầm Kiền Tiêu

Tả lý tay trái cầm cung báu

Hữu tuệ tay phải Bạt Chiết La chày Kim Cương

Hữu trí tay phải cầm tên báu

Lý trí hai tay ấn cứu thế

Trước dùng tả định oản cổ tay trái

Đè trên hữu tuệ oản cổ tay phải

Dùng hữu tay phải Luân Thiền ngón cái địa ngón út

Cài tả tay trái Luân Thiền ngón cái địa ngón út

Giống như treo móc liền

Tả định tay trái Luân Tiến ngón trỏ thủy ngón vô danh

Cùng với luân nhẫn ngón giữa hỏa ngón trỏ

Cùng co vào trong chưởng lòng bàn tay

Cũng đem Luân Giới ngón vô danh phong ngón trỏ

Luân Đàn tuệ hai ngón út dựng đứng

Mỗi mỗi phụ đầu ngón

Tay như chim hai mỏ

Hữu tuệ tay phải cũng như định tay trái

Kim Cương, Anh Lạc báu

Trang nghiêm trên Diệu Thân

Thân tỏa ánh sấm sét

Vòng lửa nóng rực rỡ

Ma Ê Đại Tự Tại Thiên với Hà Phi Uma Phi

Hai thân dùng làm tòa

Đã nói Phương, Đàn, phương vị với uy nghi hình sắc của các tôn trong ba lớp.

Đã nói hình của Đàn. Tiếp đến đất của Nội Viện có màu lưu ly xanh biếc, đất của viện thứ hai có màu châu báu đỏ, viện thứ ba có màu đỏ lợt.

Ở khoảng giữa từ Nội Viện đến viện thứ hai có đất Phệ Lưu Ly, hoa văn năm cây đao.

Từ viện thứ hai đến ba cửa, có đất Tử Ma, hoa sen, vàng ròng… hoa văn ba cây đao.

Từ Viện thứ ba đến cửa Hoa Sen, có đất màu đỏ, màu vàng chói… hoa văn một cây đao.

Tiếp cửa Hoa Sen ở bốn phương màu thịt trắng, bốn góc có cây cọc gỗ Kim Cương, Thập Tự Bạt Chiết La chày kim cương chữ thập. Lại nói là cây cọc gỗ Càn Đà. Bốn phương, bốn góc có hoa sen xanh vây quanh.

Khi Đức Bà Nga Tông Thế Tôn nói Kinh này xong thời tất cả các vị Bồ Tát, Kim Cương Thủ… trong Bình Đẳng Đại Hội Nhất Thừa Mạn Trà La Mãn Nguyên Hội nghe điều Đức Phật đã nói, tâm rất vui vẻ, tin nhận phụng hành.

***